Dịch vụ cung cấp:
- Khóa đào tạo Phân tích cổ phiếu chuyên sâu
- Báo cáo phân tích chuyên sâu
- Dịch vụ tư vấn & quản lý tài sản cá nhân.
Thông tin chi tiết tại: vnstockmarket.com/


Vnstockmarket

Chia sẻ miễn phí 100 Model Excel từ CFI, WSO, NREL... (Những gì đáng miễn phí thì không nên thu tiền):

(1) Định giá doanh nghiệp/cổ phiếu
- Các phương pháp: FCFF; FCFE; RI; DCF; EV/EBITDA; PE...
- Casestudy: Banks, Insurance, Insure-tech...

(2) Dự báo tài chính:
- Project Finance (có các case: Solar Power, Wind Farm... rất chi tiêt)
- Corporate Finance,
- Debt Schedule

Lưu ý đây các model mẫu, để làm ra sản phẩm ở Việt Nam, bạn cần các model chi tiết hơn, phản ánh các vấn đề cụ thể: market, bussiness model, Policy-related risks...)
Inbox Vnstockmarket để nhận file miễn phí.

1 day ago | [YT] | 3

Vnstockmarket

Phần IV: Lượng hóa quan điểm đầu tư (Phần cuối)

“Hiểu bố cục --> Nắm chi tiết --> Hình thành quan điểm --> Lượng hóa quan điểm”
Định giá không phải là nghệ thuật, cũng có đỉnh cao gì cả, chỉ nên hiểu thuần túy là: Quá trình sử dụng hợp lý các công cụ tính toán, để LƯỢNG HÓA quan điểm đầu tư cụ thể.

Trong đó quan điểm có thể chia ra thành 2 loại:
(1) "Mượn" quan điểm:
Sẽ “không thật lòng” nếu ai đó nói: “Quan điểm định giá CỦA TÔI là cổ phiếu XYZ là đắt, vì PE quá cao”, bởi:
Các phương pháp định giá chỉ số (PB; PE; EV/EBITDA…), thường có 2 cách sử dụng:
(1.1) So sánh với tệp khách doanh nghiệp
(1.2) So sánh với chính doanh nghiệp đó trong quá khứ
Nói chung cả 2 cách trên đều tham chiếu với 1 mức giá trên thị trường ở hiện tại (1.1) hoặc trong quá khứ (1.2), nên ưu điểm lớn nhất của phương pháp này, có thể coi là:

- Dễ hiểu, dễ tính toán
- Khách quan (mượn quan điểm CỦA THỊ TRƯỜNG chứ không phải quan điểm của tôi, hay của riêng ai cả!), mặc dù tính khách quan cũng còn phụ thuộc vào chủ đích chọn giá tham chiếu.

Nhược điểm: Không lượng hóa được các dự đoán đầu tư cụ thể về doanh nghiệp, kiểu như: tăng trưởng doanh thu, biên lợi nhuận… từ dự án mới sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng Lợi nhuận.

(2) Tự lượng hóa quan điểm đầu tư riêng:
Nhìn chung nếu bạn hiểu sâu doanh nghiệp, có investment thesis rõ ràng (như đã chia sẻ ở phần I, II, III), kiểu như:

Chính sách dẹp bỏ chợ cóc có thể giúp các Convenience store tăng lượng traffic khách hàng ~ 10%, trong đó Bách Hóa Xanh, nhờ xây dựng MHKD cạnh tranh trực tiếp, nên traffic có thể tăng 20-30% theo lộ trình 3 năm tới…. thì có thể ảnh hưởng khoảng bao nhiêu % đến doanh thu --> khoảng lợi nhuận --> vùng giá cổ phiếu.

Khi đó dùng DCF giúp lượng hóa các dự đoán cụ thể như vậy, các phương pháp so sánh không làm được phần này. Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất DCF là: MỆT!

Tham khảo video hướng dẫn định giá DCF cổ phiếu HPG dưới comment.
Người làm phải hiểu các các nguyên tắc hàm chứa trong các model định giá (RI, FCFF, FCFE): tài chính doanh nghiệp (corporate finance); Đầu tư vốn cổ phần (Equity Investment), và tất nhiên đến bước xử lý số liệu, thì phải nắm được một số vấn đề hạch toán kế toán.

Còn một số nhược điểm khác (có tính chủ quan, dễ lấy biến số tùy ý…), nhưng nhiều phần là do chất lượng người làm, không phải lỗi của công cụ. Nói chung: “Chê thì dễ còn làm mới khó” đúng với trường hợp định giá DCF.

Tóm lại, khi tham khảo kết quả định giá, mọi người nên bóc tách rõ thành 2 phần: phần quan điểm và phần tính toán, cụ thể về quan điểm thì:
Nếu họ không dùng định giá so sánh (PB; PE...), thì quan điểm đầu tư cụ thể về DN của họ là gì?

Ngược lại nếu họ dùng định giá so sánh, thì không cần quan tâm họ phân tích quá nhiều, vì nó cũng chẳng ảnh hưởng gì đến kết quả định giá sau cùng.
Kết thúc chủ đề: "Tự xây dựng quan điểm đầu tư", có một số ảnh mind_map mình không share được chi tiết. Mong mọi người thông cảm. Ảnh Mind-map ở dưới là ảnh kết nối giữa (arrow):

Market research - Thị trường (Phần II)
Bussiness model - Mô hình kinh doanh (Phần III)
Valuation - Lựa chọn phương pháp lượng hóa/định giá.
Credit: Vnstockmarket

5 days ago | [YT] | 1

Vnstockmarket

Phần III - PHÂN TÍCH MÔ HÌNH KINH DOANH | TỰ XÂY DỰNG TẦM NHÌN ĐẦU TƯ

“Hiểu bố cục --> Nắm chi tiết --> Hình thành quan điểm”

Phân tích mô hình kinh doanh (Bussiness Model Analysis for equity investment) có thể được hiểu đơn giản: là quá trình thấu hiểu khả năng kiếm tiền của DN dựa trên những yếu tố nào (sản xuất, R&D, bán hàng, vùng nguyên liệu...), và mức độ ảnh hưởng ra sao, đặt trong trạng thái cụ thể từ các thị trường kinh doanh (market research ở phần II).

Tương tự như việc phân tích chuỗi giá trị, thị trường kinh doanh hay phân tích báo cáo tài chính… Phân tích mô hình kinh doanh (BzM) cũng cần xác định rõ mục tiêu để làm gì nhằm tránh nhầm lẫn(cho điều hành hoạt động hay cho đầu tư).
Giới hạn bài viết này, xin chia sẻ vắn tắt một số vai trò chính cho mục tiêu đầu tư vốn cổ phần (cổ phiếu):

(1) Nền tảng hình thành quan điểm đầu tư:

Có nhiều vấn đề cần quan tâm trong DN (Finance, Tax, Legal, ESG…), mỗi chủ thể có mức độ ưu tiên cho các vấn đề khác nhau (Chủ nợ quan tâm trước tiên đến Finance, Cơ quan chứ năng: Tax & Legal, etc.)

Đối với chủ sở hữu (cổ đông), các vấn đề trên chủ yếu là điều kiện cần (xác định rủi ro), còn quan trọng sau cùng vẫn là xác định DN có thể kiếm được bao nhiêu tiền. Do vậy, cần hiểu rõ mô hình kinh doanh (BzM). Ngoài ra thấu hiểu BzM, giúp:

(2) Hình thành các dự đoán đầu tư sớm:

Nhìn chung nắm bắt doanh nghiệp kiếm tiền thế nào không khó, khó nhất là năng lực này sẽ thay đổi thế nào, nếu:
- Thị trường thay đổi (từ bên ngoài), hoặc
- Doanh nghiệp chủ động “dẫn dắt” thị trường (từ nội tại)

Dù trường hợp nào ở trên, bản chất mối quan hệ giữa BzM và market nhiều khả năng sẽ không còn như trước, dẫn đến các chỉ báo leading, phép hồi quy, model kinh tế lượng… suy giảm khả năng mô tả dự đoán trước (dữ liệu quá khứ khó phản ánh được mối quan hệ mới).

Lúc này, tư duy nắm bắt mô hình kinh doanh và khả năng "feel the market" đã nói ở phần II, rất quan trọng để thấu hiểu mối quan hệ mới đang hình thành (BzM & Market), giúp hình thành quan điểm đầu tư sớm, dựa trên:

(3) Dự đoán dựa trên các cơ sở thực tế:

Kết quả phân tích BzM cho mục tiêu đầu tư tập trung vào các dự đoán triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp
- Tiềm năng tăng trưởng (growth rate)
- Dự đoán biên lợi nhuận (GFM)
- Dòng tiền kinh doanh (ảnh hưởng mối quan hệ hợp động, vị thế doanh nghiệp - Công nợ…)

Dựa trên các diễn biến thực tế đang diễn ra trên thị trường kinh doanh (một số thông số đã nhắc phần II - Market Research) --> Giúp xây dựng quan điểm đầu tư logic và cụ thể bằng số liệu (*).

Phần IV: Lượng hóa quan điểm đầu tư (Equity Valuation)

Credit: Vnstockmarket.com

6 days ago | [YT] | 2

Vnstockmarket

PHẦN 2: TỪ BỐ CỤC ĐẾN CHI TIẾT (TỰ XÂY DỰNG TẦM NHÌN ĐẦU TƯ)

(Tiếp nối phần I, sau khi nắm bắt được bố cục, bước tiếp theo là hiểu chi tiết thông qua Market Research. Vui lòng đọc bài viết phần I trên trang Vnstockmarket)

HIỂU THỊ TRƯỜNG KINH DOANH (MARKET RESEARCH FOR EQUITY INVESTMENT)

(1) Hiểu chi tiết - Biết cụ thể:
Mình thường recommend cho cả nhà đầu tư không chuyên lẫn các bạn định hướng làm nghề. Thay vì đọc các sách dạy đầu tư từ huyền thoại Warrant Buffet, Peter Lynch… thì thực tế hơn, nên dành thời gian đọc các báo cáo market research từ Local Analysts (cách tiết kiệm thời gian nhất để nắm bắt market).

Đầu tư không cần thiết phải thần tượng, thần thánh gì cả, để “tránh bị bịp” luôn cần “hiểu chi tiết - biết cụ thể” cho từng trường hợp DN riêng, đặc biệt khi đầu tư ở Việt Nam (tính local rất cao).

Thay vì bay bổng trên giời, hay ngồi tính lợi nhuận trên giấy, Market research giúp bạn “đặt chân” xuống mặt đất, biết chính xác cái gì đang diễn ra, có thể diễn ra, trên thị trường kinh doanh, qua đó:

- Nắm bắt và dự đoán các catalyst/risk từ bên ngoài, và
- Dự đoán mức độ có thể tác động tới DN (thông qua Bussiness model, sẽ đề cập ở phần III)

(2) Nông / sâu nằm ở Market Research
Có nhiều cách và mức độ để thấu hiểu thị trường kinh doanh, từ tìm hiểu từ thực tế; đọc các nguồn miễn phí, các báo cáo trả phí vài ngàn đô (Euromonitor, Pitch Solution, Statista…); cho đến việc tiêu tốn nhiều tỷ đồng cho các hoạt động trên thực địa của DN/tập đoàn (làm in-house).

Cho mục tiêu đầu tư tài chính (cổ phiếu), cách khả thi để nắm bắt được trạng thái chung (NĐT cá nhân), là đọc báo cáo cáo market research, và cảm nhận từ thị trường local (đây là lý do bạn nên ưu tiên đầu tư những ngành nghề bạn biết, hoặc… cho đến khi bạn hiểu).

Tuy nhiên các báo cáo market research chuyên cho mục đích đầu tư không phổ biến, thường có tính thống kê, hoặc một số báo cáo có thể sử dụng các phương pháp tương đối dễ nắm bắt như swot, pestel, 5 poster…

Nhìn chung cũng rất hữu ích, giúp người đọc định hình các thông số quan trọng như (market size, market growth…), còn các thông số đặc thù (ROIC…), giúp xây dựng view đầu tư rõ ràng hơn, thì cần tự xử lý, so sánh.

Tuy nhiên lưu ý rằng các chỉ số trên không phải điều quan trọng nhất.

(3) Điều gì quan trọng nhất trong quá trình thấu hiểu thị trường?

Trong quá trình Market Research thấu hiểu (*) mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trên thị trường, những vấn đề khó có thể diễn tả bằng con số.

Đây cũng là điều khác biệt chung giữa đầu tư & tài chính, trong giới hạn chủ thể doanh nghiệp, mình thường lấy ví dụ so sánh giữa Corporate finance vs Equity investment, kiểu như:

Tài chính có thể chuẩn hóa các tiêu chí đánh giá, thành các chỉ số cụ thể (LTV < 70%; DSCR > 1.3 …), để đánh giá thế nào là một khoản vay an toàn, một dự án “khả thi” trả nợ, hay cả xếp hạng tín dụng (A+; 😎 cho doanh nghiệp (Trái phiếu) rõ ràng và được công nhận rộng rãi (Moody’s, S&P Ratings…).

Nhưng đầu tư chúng ta không thấy những tiêu chí kiểu như vậy, ngược lại việc cố gắng tìm kiếm các tiêu chí theo kiểu bộ lọc.… (PE; PB > bao nhiêu, ROA; ROE > bao nhiêu…) thường bị ví von kiểu “tìm công thức làm giàu”.

Nên thông thường, trong phân tích đầu tư vốn cổ phần (equity investment), thứ chuẩn hóa duy nhất người ta có thể làm, là xây dựng một framework chung, kiểu như:

1 - Phân tích chuỗi giá trị (nắm bắt bố cục chung)
2 - Phân tích thị trường kinh doanh (nắm bắt chi tiết)
3 - Phân tích mô hình kinh doanh (hình thành quan điểm đầu tư)
4- Định giá cổ phiếu (Lượng hóa quan điểm)

Nhưng cũng chỉ đang cố gắng giúp NĐT hiểu đầy đủ rằng: “Phải trả con số bao nhiêu để có được cái gì?” Còn có đáng bỏ tiền hay không, vẫn phải do QUAN ĐIỂM RIÊNG của bạn khi thấu hiểu chi tiết các vấn đề ở trên.

Do vậy cho mục tiêu đầu tư, market research quan trọng nhất là cần feel (*) ở trên, hơn là "just run the numbers".

(4) Thấu hiểu thị trường giúp thấu hiểu doanh nghiệp!

Theo ngữ nghĩa đầu tư, thật khó thể nói hiểu doanh nghiệp, nếu chưa hiểu thị trường kinh doanh. “Thị trường định nghĩa lên mô hình kinh doanh”. Kết nối giữa Market research vs Bussiness Model, xin trình bày ở phần III - Bussiness Model Analysis.

Credit: Vnstockmarket

1 week ago | [YT] | 1

Vnstockmarket

LÀM THẾ NÀO TỰ XÂY DỰNG TẦM NHÌN ĐẦU TƯ (PART 1)

Step 1: Nắm bắt một bố cục đủ rộng!

Muốn nắm bắt một bố cục đủ rộng cho doanh nghiệp --> Cần phân tích chuỗi giá trị. Phần lớn mọi người đều hiểu vấn đề này, nếu chịu khó đọc các báo cáo chuyên ngành đầu tư. Nhưng không phải mọi báo cáo public mà nhà đầu tư dễ tiếp cận, đều phân tích "ra được vấn đề" cho mục investment, nhiều khi còn hay bị lẫn lộn.

Dưới đây xin chia sẻ một số ý chính:

(1) Phân biệt giữa:
- Phân tích chuỗi giá trị (Value Chain Analysis - dưới đây viết tắt VCA)
- Supply Chain Analysis (viết tắt SCA).

Trong khi SCA tập trung vào đảm dòng chảy nguồn cung, tối ưu chi phí vận hành toàn chuỗi (bán chuỗi), rủi ro logistics... thì VCA tập trung vào: Giá trị nằm ở đâu trong chuỗi, có thể dịch chuyển như thế nào? Để trả lời câu hỏi: NĐT nên đặt tiền vào đâu?

Vậy nên dù mô tả "hình vẽ" Flow có thể giống nhau. Kiểu như: "Nguyên vật liệu đầu vào --> Sản xuất --> Phân phối --> Bán hàng". Vậy nên phân tích chuỗi giá trị không phải... liệt kê chi tiết vận hành của cả chuỗi đó như thế nào? Mà cần tập trung vào (một số ý chính, không đầy đủ):

- Xác định các động lực tăng trưởng toàn chuỗi giá trị sản phẩm
--> Nhìn nhận khả năng tăng trưởng chung của các thị trường lớn.

- Xác định vị thế tương đối ngành/DN trong toàn chuỗi
--> Xác định ngành nào có khả năng tăng trưởng tốt nhất.

- Và nhiều yếu tố khác (Value Points của các BzM, ROIC trung bình, Barriers ngành, các điểm bottle necks...)

Giải thích 1 ý ở trên: Trong một chuỗi giá trị tăng trưởng, không phải mọi ngành đều được hưởng lợi, nếu là một mô hình kinh doanh quá yếu (low value point), cuối cùng lợi nhuận lại giành cho người khác.

Ví dụ: Nhóm DN logistics phục vụ ngành thương mại điện tử. Chuỗi giá trị ngành TMĐT tăng thì đơn tăng, nhưng số lượng DN gia tham gia vào khâu Last-mile còn "nhanh hơn" DN logistics bị bóp biên --> Nếu không? Sàn tự in-house logistics (là hiện trạng thị trường bây giờ, không chỉ ở thị trường VN).

--> Value Chain Analysis giúp nắm bắt vị thế tương đối giữa các ngành nghề trong một chuỗi.

Bài viết có nội dung giới hạn, chưa đầy đủ, người viết sẽ cố gắng bổ sung ở các phần tiếp theo. Many thanks.

Credit: Vnstockmarket.

1 week ago | [YT] | 1

Vnstockmarket

Vì sao hiểu Mô hình kinh doanh nền tảng đầu tiên để đầu tư cổ phiếu.

(1) Xuyên suốt & Toàn diện (Comprehensive)

Nếu không thoả mãn với những phân tích chung chung từ vĩ mô, ngành nghề, hay những phân tích rời rạc, manh mún về doanh nghiệp.

Thì khóa học phân tích mô hình kinh doanh (BzM) từ Vnstockmarket giúp bạn hiểu DN trong một bố cục đủ rộng (Value Chain Analysis) đến chi tiết (BzM).

Với kinh nghiệm từ Giảng Viên từng làm Desk Research (cho fund) đến Market Research (in-house cho doanh nghiệp)

Hiểu bussiness model của doanh nghiệp phải hiểu từ thị trường (thị trường định nghĩa lên mô hình kinh doanh), cá nhân mình không tin rằng chưa từng làm market research, thì rất khó hiểu sâu Bussiness model.

(2) Kết nối với thực tế

Trước mình dạy 1 khóa duy nhất: Phân tích cổ phiếu chuyên sâu, gồm cả:

(2.1) Hiểu hô hình kinh doanh của DN --> Hình thành quan điểm đầu tư (*)
(2.2) Lượng hóa (*) - Định giá.

Nhưng thấy hơi "khoai" cho một số học viên:
- Người có thể hấp thụ (2.1) thường đã có kinh nghiệm đầu tư (các bạn làm tư vấn, anh chị nhà đầu tư lâu năm, chủ doanh nghiệp...), nhưng lại hơi khó khi dùng các phương pháp lượng hóa.

- Nhưng ngược lại các bạn mới ra trường lại thấy hơi khó nuốt các Case study thực tế ở phần (2.1).

Nên mình tách riêng thành 2 khóa, cũng dễ thỏa mãn nhu cầu của mn:
- Khóa 1 giúp bạn hình thành quan điểm đầu tư (**)
- Khóa 2: Hoặ các kỹ thuật lượng hóa quan điểm đầu tư đó.

(**) Để hình thành quan điểm đầu tư, bạn phải biết cụ thể thị trường ở Việt Nam có gì, đang diễn ra như thế nào. Các chương trình học thuật chủ yếu dạy (2.2).

(3) Không có phương pháp, mánh miếng, chiêu thức nào trong đầu tư cả:

Nếu bạn theo dõi mình/vnstockmarket một thời gian, sẽ thấy có những quan điểm gây tranh cãi. Một trong số đó là:

- Mối quan hệ kinh tế, cách tương tác và chịu ảnh hưởng giữa DN với các chủ trên thị trường: Nhà cung cấp, khách hàng, cơ quan quản lý.... LÀ YẾU TỐ QUAN TRỌNG NHẤT.

Hiểu được những vấn đề này giúp bạn tự hình thành quan điểm đầu tư riêng. Đó là điều duy nhất giúp bạn thực sự nhìn ra cơ hội đầu tư.

Ngoài ra chúng tôi không tin rằng, tồn tại mánh miếng, hay kỹ thuật tài chính, bộ lọc cổ phiếu nào.... có thể giúp bạn THỰC SỰ đưa ra một kết luận đầu tư mà "nó đúng nghĩa" là "đầu tư" cả.

--> Khóa học này đơn giản là cách giúp bạn tự hình thành quan điểm đầu tư riêng của mình, một cách có cơ sở & logic.

Đăng ký khóa học phân tích mô hình kinh doanh Tháng 1/2026:
Inbox Zalo: 0914612066

Xin cảm ơn!

1 week ago | [YT] | 1

Vnstockmarket

MỞ ĐĂNG KÝ KHÓA PHÂN TÍCH MÔ HÌNH KINH DOANH (BUSSINESS MODEL) TẠI VNSTOCKMERKET.

MỤC ĐÍCH: Xây dựng phương pháp hiểu sâu doanh nghiệp đầu tư, dựa trên mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa:

(1) Chuỗi giá trị sản phẩm (Value Chain Analysis)
(2) Các thị trường kinh doanh chính (Market Research)
(3) Mô hình kinh doanh (Bussiness Model)

KẾT QUẢ:
Tự hình thành quan điểm đầu tư riêng, có tính logic cao dựa trên các cơ sở thực tế đang diễn ra trên thị trường Việt Nam.

Khóa học có tính cụ thể cao, đi trực tiếp vào các vấn đề thực tế đang diễn ra trên thị trường Việt Nam, đồng thời có sử dụng một số kỹ thuật phân tích có tính học thuật,

NÊN KHÔNG PHÙ HỢP VỚi:
- NHÀ ĐẦU TƯ ÍT KINH NGHIỆM (<3-5 NĂM);
- SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG KINH TẾ NĂM 3 TRỞ XUỐNG.

Thông tin chi tiết vui lòng:
- Truy cập Website: vnstockmarket.com/
- Hoặc inbox Fanpage.

Many Thanks.

1 week ago (edited) | [YT] | 1

Vnstockmarket

NHẶT GÌ TRONG TRENDING ĐẦU TƯ NĂM MỚI!

"Nói chung không thể đánh đồng triển vọng doanh nghiệp với triển vọng cổ phiếu"
Đầu tiên thì mn hiểu: Các thông số kinh doanh của nhiều loại hình doanh nghiệp có thể dự phóng trước trong vòng 1 năm. Ở mức độ từ tương đối chắc chắn:

(1) Backlog, đơn hàng đã đặt, hợp đồng ký trước, COGS-tồn kho...
cho đến mức "không dám chắc lắm":
(2) Tiến độ ram-up các dự án mới (nhà máy thép, cảng biển...)
(3) Các chỉ báo thị trường, định hướng hoặc hiệu lực thi hành chính sách ngành nghề...

Nên nhiều người question, có doanh nghiệp kết quả kinh doanh ra thì ảnh hưởng giá cổ phiếu, có doanh nghiệp thì không? Vấn đề chính là khả năng dự đoán có rõ ràng hay không!

Nếu đã tính kết quả doanh thu và lợi nhuận từ phần lớn các yếu tố (1), thì đó là tính toán dựa trên các fact đã xảy ra, nên sẽ có ít giá trị về mặt đầu tư, khi mọi thứ đã rõ ràng và giá thị trường đã phản ánh.

Ví dụ trường hợp này thì các nguyên tắc dự đoán, dự phóng phần lớn đều không có gì đặc biệt, bạn sẽ dễ thấy ở các dạng DN chủ đầu tư BĐS, một số DN có backlog dài hơi, chắc hơn thì có ký fix giá hợp đồng, hay một số DN có tính chất mô hình kinh doanh "đầu tư tài chính" (predetermined).

Tức là theo trending đầu tư năm mới, thì cần lưu ý là: "triển vọng" doanh nghiệp chắc chắn tăng trưởng 2,3 quý tiếp theo đấy, nhưng triển vọng cổ phiếu thì không biết!
Nên thành thật mà nói, thì năm nào cũng thấy vô trending: "Triển vọng cổ phiếu tích cực cho năm mới". Nghe hơi hơi kiểu như NĐT sớm mua cổ phiếu này ngay đầu 2026 là chắc có ăn vậy!

Tuy nhiên vẫn có một số báo cáo của CTCK khá "dũng cảm" trong câu chuyện đúng sai nhé!

Credit: Vnstockmarket.com

1 week ago | [YT] | 1

Vnstockmarket

TAXI XANH SM ĐỊNH GIÁ THẾ NÀO RA 20B ĐÔ?


Một mô hình kinh doanh (BzM) không độc lập, khó có thể đầu tư hay định giá, ít nhất cho đến khi...?


Trích đoạn Cafef: "Theo Reuters, CTCP Vận tải Xanh và Thông minh (Xanh SM - GSM) của tỷ phú Phạm Nhật Vượng đang xem xét kế hoạch niêm yết quốc tế với mức định giá ước khoảng 20 tỷ USD."


(1) Định giá thế nào một DN có mô hình kinh doanh không độc lập

Trường hợp của Xanh SM cũng không hiếm gặp với các DN niêm yết trên thị trường Việt Nam. Đối với nhà đầu tư tài chính (cổ phiếu), thường ít để ý đến đến. Nhưng lại là điều kiện cần để các nhà đầu tư tổ chức, xem xét mua kiểm soát 1 doanh nghiệp hay không (các deal M&A).


Nó giống như bạn sở hữu 1 tập đoàn kiểu 3F (Farm-Feed-Food), nhưng chỉ niêm yết DN 1 trong 3, thì... không ai dám mua cổ phần, nếu có thì phải gắn thêm đủ các điều kiện, các quyền vào (Option bán lại, quyền hoán đổi cổ phần, lộ trình IPO doanh nghiệp...)


Hoặc là như Case của Masan, Vingroup và sau này là SK. Tránh tăng rủi ro Masan consummer phụ thuộc vào Wincommerce hay ngược lại (khi tăng tỷ lệ sản phẩm in-house), thì deal structure cần Crown X: gộp cổ phần Wincommerce và Masan Consummer. Nói chung cũng là để giảm rủi ro mô hình kinh doanh phụ thuộc, tránh ai thiệt ai hơn.


(2) 20 tỷ đô xác định từ đâu?


(2.1) Phương pháp so sánh:


Mẫu: Grab được biết đến như startup đầu tiên ở Đông Nam Á thực hiện SPAC IPO lớn nhất, với định giá ban đầu ~39,6 tỷ USD vào năm 2021 khi niêm yết qua SPAC, hiện giờ ~ 20-21 tỷ đô).


Đúng là... nếu ở dạng startup, tiêu chí quan trọng nhất khi định giá, là cần "ước trước" market size (thị trường kinh doanh), nhất là khi DN vẫn đang trong quá trình mở rộng, như trường hợp Xanh SM.


Nhưng... động lực mở rộng bussiness "có vẻ như" không đến từ core bussiness. Mà mục đích chính là mở rộng thị trường tiêu thụ xe, giúp Vinfast sớm đạt điểm sản lượng hòa vốn. Tương tự như mục đích của hàng loạt các dự án "xanh" công bố gần đây (hợp tác với DN Ấn; xanh hóa các KCN...)


Do vậy con số 20 tỷ đô có vẻ như không hợp lý, vì key value drivers của Xanh SM và Grab không tương đồng, mặc dù đúng là thị trường Grab ở đâu thì Xanh SM cũng đang mở rộng ở đó, (va quan trọng hơn là mô hình kinh doanh không tương đồng)

Nên các chỉ số định giá cho Xanh SM (bao gồm cả market size), nên "thật thà" neo theo các thông số sản xuất (capacity, DOl, cost structure...) của Vinfast. Ít nhất cho đến khi mô hình kinh doanh này có lời rõ ràng (Grab 2020-2024 vẫn lỗ).


(2.2) Tính từ phương pháp Phân tách từng phần (Sum-of-the-parts (SOTP)

Với Market Cap. của Vingroup ~ 45B ; Vinhomes ~ 20B; Vinfast ~ 8B.... và các công ty khác. Bạn nhân với tỷ lệ % sở hũu rồi trừ "có lẽ" cũng ra ~ 15 - 20B.


Chưa nói giá cổ phiếu trên thị trường của VIC, VFS... có hợp lý hay không, mà đơn giản là BzM của Xanh SM không độc lập. Không độc lập thì cố phân tách (SOTP) để tính thì khó.

1 week ago | [YT] | 2

Vnstockmarket

CHỈ LÀ MÁNH MIẾNG VÀ... CHẲNG CÓ GIÁ TRỊ GÌ!

Có thể bạn nghĩ rằng đang dùng "nó" như một công cụ kiểm soát rủi ro, nhưng thật ra... bạn lại đang dùng "nó" như một dấu hiệu tìm ra một cổ phiếu sinh lời. Mình thì tin rằng, khi NĐT thực sự hiểu, sẽ thấy nó chỉ là những mánh miếng và thật vô nghĩa!
KHÁC BIỆT MỐC AN TOÀN GIỮA ĐẦU TƯ & TÀI CHÍNH (RISK MANAGEMENT).

Trước tiên cần giải thích, vì sao Tài chính có thể có các mốc kiểm soát rủi ro rõ ràng, còn đầu tư thì... không.

Các công cụ của Finance luôn sử dụng các chỉ số, có cách tính rất rõ ràng để xác định các mốc an toàn cho 1 subject cụ thể (khoản vay, chủ thể đi vay, chủ thể có hoạt động vay & cho vay):

- An toàn nguồn vốn (VD Bank: Car >8%...)
- Khả năng trả nợ (Loan To Value < 70%, DSCR > 1.2...)

..........
Nhưng dùng chỉ số nào để có mốc an toàn cho đầu tư (chủ thể: cổ phiếu/DN)? Câu trả lời có thể sẽ là không!

Cần phải có 1 đầu fixed, thì mới fix được đầu còn lại.
Ví dụ bạn vay nợ 1000, lãi suất 10% --> Dòng tiền trả nợ ~ 100 (số cố định). Thì tiêu chí an toàn để khoản nợ tránh rủi ro default, có thể thiết lập: Free cash flow trả nợ > 20% --> DSCR > 1.2.

Ngược lại các khoản đầu tư cổ phiếu (giá cổ phiếu), thì không có đầu nào được fixed cả:

(1) Khi kết quả kinh doanh luôn phụ thuộc vào thị trường kinh doanh. Ngoại trừ bạn đầu tư vào những ngành phi thị trường: điện, nước, hoặc các dự án đc bao thầu đầu ra/vào (predetermined), nhưng: (2) cũng phải xem xét điều kiện thị trường vốn có tương đồng hay không.

Vậy nên theo mình, chúng ta chẳng thể đặt ra những tiêu chí cụ thể (ROA; ROE, PB; PE... bao nhiêu), để tìm ra một cổ phiếu an toàn, hay cả trường hợp là một cổ phiếu tăng trưởng, siêu cổ phiếu gì đó...!

Mình tin rằng khi bạn thực sự hiểu, bạn sẽ thấy nó chỉ là mánh miếng, và chẳng có giá trị gì, nhất là với hàng đã "bày ra" (Public Equity).

Chỉ có một thứ chắc chắn trong đầu tư, đấy là không có gì chắc chắn cả. NĐT buộc phải hiểu các câu chuyện lớn/nhỏ của doanh nghiệp, mà chính các chủ tịch, họ cũng đang... gồng mình xử lý (chưa rõ đi về đâu) và chấp nhận:

KHÔNG CÓ MÁNH MIẾNG GÌ CẢ! TẤT CẢ LÀ QUAN ĐIỂM ĐẦU TƯ VÀ CHẤP NHẬN CUỘC CHƠI!

Mình cho rằng không phải các chỉ số tài chính, hay tiêu chí abc, xyz... nào có thể tìm ra một cổ phiếu tiềm năng. Điều quan trọng nhất là thực sự cần hiểu rõ CÁC MỐI QUAN HỆ KINH TẾ giữa:

- Khách hàng, nhà cung cấp với DN
- Thị trường kinh doanh đang ảnh hưởng thế nào đến mô hình DN
- Bố cục chung cả chuỗi giá trị đang thay đổi bất lợi hay có lợi cho vị thế hiện tại.

Chính những mối quan hệ này là thứ tạo ra xu hướng trong tương lai, chứ không phải là tiêu chí lựa chọn DN đã tăng trưởng 3,4 năm liên tiếp!

Cre: Vnstockmarket.com

2 weeks ago | [YT] | 1