Hoàng Vinh Stock
Nơi chia sẻ các thông tin cơ bản về doanh nghiệp và các kiến thức trong đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nền kinh tế luôn luôn vận hành theo chu kì của nó, chúng ta cần chuẩn bị kiến thức, nhận diện được sự vận động để có thể hành động phân bổ, quản trị tài sản một cách đúng đắn.
Với mục đích chia sẻ các kiến thức và hỗ trợ nhà đầu tư sinh lời bền vững trên thị trường, quản trị rủi ro và có một phương pháo đầu tư hiệu quả.
Hãy liên hệ với Vinh để nhận thêm các thông tin bổ ích trên thị trường:
Facebook: www.facebook.com/profile.php?id=100090732240699
Nhóm zalo cộng đồng: zalo.me/g/qbtqzm840
Gmail: Vinhlh@vps.com.vn
SĐT + Zalo: 0934454939
Hoàng Vinh Stock
Việc tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống nhảy từ 8.38% ngày 20/8 lên 10.24% ngày 28/8/2026, tức tăng thêm 1.86 điểm phần trăm chỉ trong 8 ngày, là một diễn biến khá đột biến và tương đương khoảng 346,000 tỷ đồng dư nợ mới. Đây là tín hiệu tích cực đối với triển vọng lợi nhuận ngân hàng trong quý III, cho thấy quá trình giải ngân đang được đẩy nhanh và nhu cầu vốn của nền kinh tế có thể đã bước vào giai đoạn tăng tốc. Tuy nhiên, mức tăng đột biến có thể một phần đến từ thời điểm ghi nhận các khoản vay lớn, giải ngân theo lô hoặc yếu tố kỹ thuật cuối tháng.
Quan trọng hơn, tín dụng tăng nhanh chỉ thực sự có chất lượng khi đi cùng với tăng trưởng huy động, biên lãi ròng và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Nên là nếu huy động không theo kịp, các ngân hàng sẽ phải tăng lãi suất tiền gửi hoặc vay thêm trên thị trường liên ngân hàng, làm chi phí vốn tăng và gây áp lực lên NIM. Khi đó, quy mô tín dụng tăng mạnh nhưng lợi nhuận chưa chắc tăng tương ứng. Đồng thời, việc đẩy vốn quá nhanh vào những dự án có dòng tiền dài hạn hoặc khả năng trả nợ chưa rõ ràng có thể làm gia tăng nợ xấu với độ trễ trong các quý sau.
Vì vậy, thông điệp của Ngân hàng Nhà nước về việc không thể chỉ dựa vào vốn ngân hàng cho các dự án lớn cho thấy cơ quan điều hành đang hướng tới một trạng thái cân bằng: tín dụng tiếp tục được mở rộng để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao, nhưng phải tránh để hệ thống ngân hàng gánh thay vai trò của thị trường vốn và tránh đánh đổi ổn định tiền tệ, lạm phát cũng như chất lượng tài sản.
Trong bối cảnh này, lợi thế sẽ nghiêng về những ngân hàng có CASA cao, nguồn tiền gửi ổn định, thanh khoản dồi dào và bộ đệm vốn tốt. Còn các ngân hàng phải cạnh tranh huy động bằng lãi suất cao có thể tăng trưởng dư nợ nhanh nhưng chịu áp lực lớn hơn về NIM và rủi ro tín dụng. Tức là cú tăng tín dụng trong 8 ngày là tín hiệu củng cố triển vọng tăng trưởng của ngành ngân hàng trong quý III, nhưng cũng đánh dấu sự chuyển dịch từ câu chuyện “ngân hàng nào tăng tín dụng nhanh nhất” sang “ngân hàng nào tài trợ được tăng trưởng đó với chi phí vốn thấp và chất lượng tài sản tốt nhất”.
Và nếu anh chị đang cần một chiến lược đầu tư chi tiết hơn dựa theo câu chuyện này, anh chị liên hệ cho Vinh nhé. Hoặc tham gia cộng đồng đầu tư theo đường link bên dưới để cập nhật thêm những thông tin về thị trường.
23 hours ago | [YT] | 1
View 1 reply
Hoàng Vinh Stock
P/B thấp chưa chắc đã là rẻ, và P/B cao cũng chưa chắc đã là đắt. Muốn biết ngân hàng nào thực sự hấp dẫn về định giá, chúng ta phải đặt P/B bên cạnh khả năng sinh lời trên vốn, tức là tỷ lệ ROE.
Ví dụ, VCB có ROE khoảng 18% nhưng đang được giao dịch ở gần 2 lần P/B, tức là thị trường sẵn sàng trả 1 mức premium rất lớn cho chất lượng và sự ổn định của VCB. Trong khi đó, CTG lại nằm khá sát vùng dưới bên phải, đó là ROE khoảng 22%, cao hơn VCB khá nhiều, nhưng P/B lại chỉ quanh 1.2 lần. Còn MBB cũng có ROE cao, khoảng 21%, nhưng P/B vào khoảng 1.4 lần. Còn HDB có ROE cao nhất nhóm, khoảng 25%, với P/B khoảng 1.5 lần. Ngược lại, thì những ngân hàng như TCB, VPB, ACB hay BID nằm về phía bên trái hơn, tức là các ngân hàng này có ROE thấp hơn, nên là dù P/B nhìn qua có vẻ không cao thì vẫn phải đặt nó trong tương quan với khả năng sinh lời thực tế.
Đây là cái điểm rất quan trọng, bởi vì P/B thấp thì nó không đồng nghĩa với rẻ. Một ngân hàng giao dịch ở 1.2 lần P/B nhưng tạo được ROE tới 22% thì rõ ràng nó khác hoàn toàn với 1 ngân hàng cũng giao dịch ở 1.2 lần P/B nhưng ROE chỉ 12% hay 13%. Nên là về mặt lý thuyết, điều này hoàn toàn hợp lý, vì P/B mà thị trường sẵn sàng trả sẽ phụ thuộc rất lớn vào khả năng ngân hàng tạo ra ROE cao hơn chi phí của vốn chủ và duy trì mức ROE đó trong thời gian dài. Mà ROE càng cao và càng bền vững thì thị trường càng có lý do để trả P/B cao hơn.
Và đây mới là bước giúp chúng ta chuyển từ việc chỉ tìm một cổ phiếu có định giá thấp sang tìm một cổ phiếu đang được định giá thấp tương đối so với chất lượng sinh lời của chính nó. Và nếu anh chị đang cần một chiến lược đầu tư chi tiết hơn dựa theo câu chuyện này, anh chị liên hệ cho Vinh nhé. Hoặc tham gia cộng đồng đầu tư theo đường link bên dưới để cập nhật thêm những thông tin về thị trường.
1 day ago | [YT] | 3
View 4 replies
Hoàng Vinh Stock
Lúc trước phân tích ngành cảng biển thì thường sẽ nhìn vào tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam là đầu tiên, nhưng bây giờ nghiên cứu lại thì mới thấy là cơ cấu đang có sự thay đổi. Đó cũng là lý do mà các cổ phiếu ngành cảng biển lại có sự phân hóa mạnh như vậy, có cổ phiếu thì vẫn tăng, vẫn giao dịch ở vùng giá cao, còn có cổ phiếu thì vẫn nằm ở vùng đáy.
Nhìn vào biểu đồ cơ cấu sản lượng container qua các cảng, có thể thấy là trong suốt giai đoạn từ 2019 đến 2024, hàng trung chuyển qua các cảng Việt Nam chỉ chiếm khoảng 1.3% đến 3.5% tổng sản lượng container. Tức là trong nhiều năm, thì vai trò của cảng Việt Nam vẫn chủ yếu là phục vụ hoạt động xuất nhâp khẩu của chính nền kinh tế trong nước. Nhưng mà đến năm 2025, tỷ trọng hàng trung chuyển đã tăng vọt lên 9.6%. Đây không chỉ là một sự thay đổi về cơ cấu sản lượng, mà nó còn là tín hiệu cho thấy vai trò của cảng biển Việt Nam đang bắt đầu thay đổi.
Ví dụ một cái container có thể xuất phát từ Trung Quốc hoặc một quốc gia khác trong khu vực, rồi đi đến cảng Cái Mép, và được chuyển sang một tàu mẹ lớn hơn rồi tiếp tục sang Mỹ hay châu Âu. Thì rõ ràng là hàng hóa đó không được sản xuất tại Việt Nam và cũng không tiêu thụ tại Việt Nam, nhưng mà các cảng biển ở Việt Nam vẫn có thể tham gia vào chuỗi vận chuyển, xếp dỡ và tạo ra doanh thu từ nó.
Vì vậy, khi Việt Nam từng bước trở thành một cái hub trung chuyển của khu vực, thì quy mô của thị trường của ngành cảng biển sẽ không còn bị giới hạn hoàn toàn bởi GDP hay là kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam nữa. Khi đó thì, các cảng của chúng ta không chỉ phục vụ hàng hóa Việt Nam, mà còn có thể phục vụ cả dòng thương mại của khu vực. Và câu chuyện này sẽ gọi tên các doanh nghiệp cảng biển có tài sản ở các cảng nước sâu.
Và nếu anh chị đang cần một chiến lược đầu tư chi tiết hơn dựa theo câu chuyện này, anh chị liên hệ cho Vinh nhé. Hoặc tham gia cộng đồng đầu tư theo đường link bên dưới để cập nhật thêm những thông tin về thị trường.
4 days ago | [YT] | 7
View 1 reply
Hoàng Vinh Stock
Lợi Suất Trái Phiếu Mỹ Tăng - Thị Trường Chứng Khoán Sẽ Giảm?
Anh chị có thể hình dung đơn giản, giá cổ phiếu bằng lợi nhuận doanh nghiệp nhân với hệ số P/E. Nên là khi lợi suất tăng, mức chiết khấu của thị trường cao hơn nên là P/E có thể bị co lại. Nhưng mà nếu lợi nhuận của doanh nghiệp vẫn tăng đủ nhanh, thì cái phần tăng trưởng lợi nhuận hoàn toàn có thể bù lại sự suy giảm của định giá, và giá cổ phiếu vẫn tiếp tục đi lên.
Anh chị nhìn vào diễn biến của lợi suất trái phiếu Mỹ và chỉ số S&P500 ở trên hình cũng sẽ thấy khá rõ. Đó là từ 2022 đến nay, thì lợi suất trái phiếu Mỹ kỳ hạn 10 năm đã tăng từ vùng dưới 2% lên quanh 4.8%, nhưng trong cùng khoảng thời gian đó, chỉ số S&P 500 vẫn tăng mạnh. Mặc dù là vẫn có những thời điểm thị trường phản ứng mạnh với lợi suất tăng, nhưng đó cũng chỉ là diễn biến trong ngắn hạn. Điều này nó cho thấy là lợi suất và thị trường chứng khoán hoàn toàn có thể cùng tăng, miễn là nền tảng lợi nhuận doanh nghiệp vẫn đủ tốt.
Do đó mà câu hỏi quan trọng ko phải chỉ là “lợi suất có tăng hay không”, mà phải là “vì sao lợi suất tăng”. Bởi vì nếu lợi suất tăng vì nền kinh tế mạnh, vì doanh nghiệp mở rộng đầu tư, nhu cầu vốn lớn và lợi nhuận tiếp tục tăng, thì chứng khoán vẫn có thể diễn biến tích cực. Ngược lại thì, nếu lợi suất tăng vì lạm phát mất kiểm soát, rủi ro tài khóa gia tăng hay là thị trường mất niềm tin vào hệ thống tài chính, thì tác động sẽ tiêu cực hơn nhiều.
Mà trong bối cảnh hiện tại, thì đà tăng lợi suất có lẽ đến từ cả 2 phía, tức là vừa có yếu tố rủi ro lạm phát và tài khóa, mà vừa có tăng trưởng kinh tế mạnh, khi mà làn sóng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo và nhu cầu vốn rất lớn. Vì thế, sẽ quá đơn giản nếu kết luận rằng lợi suất tăng thì chứng khoán phải giảm, chứng khoán phải tiêu cực. Khi mà cuối cùng, thì thị trường vẫn là cuộc cân bằng giữa P/E bị co lại bao nhiêu và lợi nhuận doanh nghiệp tăng nhanh đến mức nào.
Và nếu anh chị đang cần một chiến lược đầu tư và quản trị rủi ro trong bối cảnh hiện tại, anh chị liên hệ cho Vinh nhé. Hoặc tham gia cộng đồng đầu tư theo đường link bên dưới để cập nhật thêm những thông tin về thị trường.
6 days ago | [YT] | 4
View 1 reply
Hoàng Vinh Stock
Vì sao lợi suất TPCP Mỹ kỳ hạn 10 năm lại đang tiến sát vùng 5%?
Đầu tiên là giá năng lượng – giá dầu Brent đã quay trở lại vùng 97 USD/thùng. Mà dầu là một trong những đầu vào quan trọng của nền kinh tế, nên khi giá dầu tăng trở lại, thị trường lập tức phải tính đến khả năng lạm phát khó giảm nhanh như kỳ vọng. Mà khi kỳ vọng lạm phát tăng, thì lợi suất trái phiếu cũng phải tăng theo để bù đắp cho nhà đầu tư. Giá dầu tăng cũng sẽ kéo theo áp lực lạm phát vẫn còn dai dẳng, Fed sẽ khó có thể nhanh chóng chuyển sang nới lỏng chính sách tiền tệ.
Cái yếu tố tiếp theo nó nằm ở tài khóa của Chính phủ Mỹ. Khi mà nợ công Mỹ đã tăng rất mạnh trong nhiều thập kỷ qua. Và đến tháng 8/2026, quy mô nợ công đã vượt 40,000 tỷ USD. Điều đó nó đồng nghĩa là Kho bạc Mỹ phải liên tục phát hành một lượng trái phiếu ngày càng lớn để tài trợ cho thâm hụt ngân sách và đảo nợ. Mà khi nguồn cung trái phiếu tăng nhanh, thì thị trường cần một mức lợi suất hấp dẫn hơn để có đủ người mua hấp thụ lượng trái phiếu khổng lồ này.
Nhưng cái yếu tố cuối cùng mới là cái điểm mà Vinh cho rằng nó đáng chú ý nhất, đó là lợi suất thực đang tăng khá là mạnh. Biểu đồ bên trái, cho thấy lợi suất thực của TPCP Mỹ kỳ hạn 10 năm (tức là lợi suất sau khi trừ đi lạm phát), chỉ trong vài tháng đã tăng từ khoảng 1.7% lên hơn 2.4%. Đây là một tín hiệu rất quan trọng, bởi vì nó cho thấy câu chuyện hiện tại không đơn thuần chỉ là lạm phát. Vì nếu lợi suất trái phiếu tăng chỉ vì kỳ vọng lạm phát tăng, chúng ta có thể nói thị trường đơn giản là đang yêu cầu được bù đắp cho sức mua bị mất đi. Nhưng mà khi lợi suất thực cũng tăng mạnh, thì điều đó nó có nghĩa nhà đầu tư đang yêu cầu một mức sinh lời cao hơn ngay cả sau khi đã loại bỏ sự ảnh hưởng của lạm phát.
Ví dụ anh chị cho Chính phủ Mỹ vay tiền trong vòng 10 năm, và anh chị không chỉ muốn được bù lại phần tiền mất giá do lạm phát. Mà còn muốn nhận thêm một mức lợi tức thực đủ hấp dẫn để mà chấp nhận khóa vốn trong suốt 10 năm. Nên là cái phần lợi suất bổ sung mà anh chị yêu cầu để chấp nhận nắm giữ trái phiếu dài hạn chính là câu chuyện liên quan đến phần bù kỳ hạn. Đó là lý do mà lợi suất 10 năm của Mỹ không chỉ tăng vì “Fed chưa giảm lãi suất”, mà còn phản ánh một sự thay đổi rộng hơn trong cách thị trường định giá rủi ro của việc nắm giữ vốn dài hạn.
Và nếu anh chị đang cần một chiến lược đầu tư và quản trị rủi ro trong bối cảnh hiện tại, anh chị liên hệ cho Vinh nhé. Hoặc tham gia cộng đồng đầu tư theo đường link
1 week ago | [YT] | 4
View 1 reply
Hoàng Vinh Stock
Nếu như từ cuối năm ngoái việc tín dụng tăng nhanh hơn huy động gây áp lực lên thanh khoản hệ thống ngân hàng, nó đã khiến cho các ngân hàng phải chạy đua tăng lãi suất để kéo huy động về. Thì hiện tại, cái nút thắt đó đang dần được tháo gỡ, khi mà đến ngày 22/8, tăng trưởng huy động đã đạt 8.77%, cao hơn mức tăng tín dụng 8.38%, đưa chênh lệch giữa huy động và tín dụng trở lại dương 0.39 điểm %.
Đây là một sự đảo chiều rất quan trọng, bởi vì thay vì phải chạy theo tín dụng để bổ sung nguồn vốn như trước, thì hệ thống ngân hàng hiện đã có tốc độ huy động bắt kịp, thậm chí vượt tốc độ cho vay. Mà khi áp lực thanh khoản giảm xuống, nhu cầu phải cạnh tranh tiền gửi bằng lãi suất cao cũng giảm theo, từ đó tạo ra dư địa lớn hơn để lãi suất huy động hạ nhiệt, nhất là trong bối cảnh Chính Phủ đang yêu cầu các ngân hàng thương mại phải hạ lãi suất để hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế.
Và khi mặt bằng lãi suất đang có nhiều cơ sở để hạ nhiệt như vậy thì cơ hội trên thị trường chứng khoán sẽ không chờ đến khi mọi thứ rõ ràng nhất, không chờ đến khi ai cũng thấy dòng tiền rẻ chảy vào. Bởi vì khi đó thì chỉ có việc mua cao và bán cao hơn, nhưng không biết ai mới là nạn nhân cuối cùng của đỉnh cổ phiếu. Còn vùng đáy của cổ phiếu là khi những chỉ báo sớm bắt đầu xuất hiện.
Nếu anh chị đang cần một chiến lược đầu tư chi tiết hơn dựa theo câu chuyện này, anh chị liên hệ cho Vinh nhé. Hoặc tham gia cộng đồng đầu tư theo đường link bên dưới để cập nhật thêm những thông tin về thị trường.
1 week ago | [YT] | 7
View 3 replies
Hoàng Vinh Stock
Tăng vốn 50% chưa chắc tốt hơn tăng 10%
Một hiểu nhầm khá phổ biến của nhà đầu tư là: ngân hàng tăng vốn càng nhiều thì càng tốt. Thực tế, con số tăng 20%, 30% hay 50% tự nó gần như chưa nói lên điều gì. Điều quan trọng hơn là vốn tăng bằng cách nào, tiền có thực sự đi vào ngân hàng hay không, và số vốn đó sẽ tạo ra bao nhiêu lợi nhuận trong tương lai.
Và có thể chia tăng vốn thành ba câu chuyện rất khác nhau như trên hình:
- Cổ tức bằng cổ phiếu: Không có dòng tiền mới đi vào ngân hàng. Về bản chất, một phần lợi nhuận giữ lại được chuyển sang vốn điều lệ. Tổng giá trị vốn chủ không tự nhiên tăng thêm chỉ vì số lượng cổ phiếu tăng. Vì vậy, việc chia cổ phiếu bản thân nó không tạo ra giá trị kinh tế ngay lập tức. Giá trị chỉ xuất hiện về sau nếu nền vốn lớn hơn giúp ngân hàng mở rộng tín dụng, tài sản sinh lời và duy trì được ROE đủ cao. Nếu lợi nhuận không tăng tương ứng, EPS sẽ bị pha loãng về mặt số học.
- Phát hành quyền mua cho cổ đông hiện hữu: Đây mới là vốn mới thực sự vì cổ đông phải bỏ thêm tiền vào ngân hàng. Cổ đông không tham gia có thể bị pha loãng tỷ lệ sở hữu. Một thương vụ như vậy tốt hay xấu phụ thuộc rất lớn vào giá phát hành và quan trọng hơn là ngân hàng có thể sinh lời bao nhiêu trên phần vốn mới huy động được.
- Chào bán riêng lẻ: Cũng có dòng tiền mới đi vào vốn chủ, nhưng vốn đến từ nhà đầu tư mới. Cổ đông hiện hữu bị pha loãng, đổi lại ngân hàng có thêm vốn để tăng trưởng. Vì vậy cần nhìn đồng thời vào giá bán, mức độ pha loãng, chất lượng đối tác và khả năng tạo lợi nhuận từ lượng vốn mới.
Vì thế, khi đánh giá một kế hoạch tăng vốn, câu hỏi quan trọng không phải là: “Ngân hàng này tăng vốn bao nhiêu phần trăm?” mà phải là: “Mỗi đồng vốn mới sau khi được đưa vào kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận?”.
Một ngân hàng tăng vốn 10% nhưng tái đầu tư ở ROE cao hoàn toàn có thể tạo ra nhiều giá trị cho cổ đông hơn một ngân hàng tăng vốn 50% nhưng không tìm được nơi sử dụng vốn hiệu quả. Tăng vốn chỉ là nguyên liệu. Giá trị nằm ở khả năng biến vốn thành lợi nhuận.
Và trong thời điểm có rất nhiều ngân hàng đã và đang có kế hoạch tăng vốn, nếu anh chị đang cần đánh giá kỹ lưỡng hơn về chất lượng tăng vốn đó, anh chị liên hệ cho Vinh nhé. Hoặc tham gia cộng đồng đầu tư theo đường link bên dưới để cập nhật thêm những thông tin về thị trường.
1 week ago | [YT] | 4
View 1 reply
Hoàng Vinh Stock
Nhật Bản đã sống hàng chục năm trong một môi trường mà chi phí vốn gần như là bằng 0. Nhưng vài năm gần đây, thì cái xu hướng này đã đảo chiều rất mạnh. Mà không chỉ lợi suất JGB 10 năm tăng lên quanh 3%, lợi suất 2 năm và 5 năm cũng đồng loạt đi lên, cho thấy đây không còn là biến động riêng lẻ ở một kỳ hạn mà là cả đường cong lãi suất của Nhật đang được định giá lại. Vì vậy, một phần của đợt tăng lợi suất hiện nay có thể đơn giản chỉ là quá trình đưa giá vốn của Nhật trở lại một trạng thái bình thường hơn sau quá nhiều năm bị nén xuống mức rất thấp.
Và bởi vì trước đó Nhật Bản gần như là một “nguồn vốn giá rẻ” của thế giới. Khi mà trái phiếu chính phủ Nhật chỉ mang lại lợi suất gần 0%, nên các quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí và tổ chức tài chính Nhật có động lực đưa tiền ra nước ngoài, đặc biệt là mua trái phiếu Kho bạc Mỹ để tìm kiếm mức sinh lời cao hơn. Nhưng mà khi lợi suất Nhật đã lên tới khoảng 3% ngay bằng đồng Yen, bài toán nó trở nên hoàn toàn khác. Biểu đồ diễn biến của Trái phiếu Kho bạc Mỹ do Nhật Bản nắm giữ cho thấy, mặc dù Nhật Bản hiện vẫn là chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ, nắm giữ khoảng 1.116 nghìn tỷ USD trái phiếu Kho bạc Mỹ vào cuối tháng 6/2026. Nhưng mà cái điều quan trọng hơn con số tuyệt đối là cái xu hướng, đó là sau khi lượng nắm giữ tăng lên vùng trên 1.2 nghìn tỷ USD vào đầu năm 2026, quy mô này đã giảm khá rõ trong những tháng gần đây.
Đây mới là lý do mức 3% của Nhật đáng quan tâm, nếu lợi suất trong nước tiếp tục hấp dẫn hơn, thì một phần dòng vốn Nhật có thể được hồi hương thay vì tiếp tục chảy vào trái phiếu Mỹ. Mà với quy mô tài sản của các định chế tài chính Nhật, thì chỉ cần một sự dịch chuyển nhỏ cũng có thể tạo ảnh hưởng đáng kể đến lực cầu trái phiếu Mỹ, lợi suất trái phiếu và chi phí vốn trên toàn cầu.
Và nếu anh chị đang cần một chiến lược đầu tư chi tiết hơn trong bối cảnh dòng tiền toàn cầu đang thay đổi, anh chị liên hệ cho Vinh nhé. Hoặc tham gia cộng đồng đầu tư theo đường link bên dưới để cập nhật thêm những thông tin về thị trường.
1 week ago | [YT] | 7
View 1 reply
Hoàng Vinh Stock
Trên thị trường chúng ta thường gọi chung là “bán vốn cho nhà đầu tư nước ngoài”, nhưng thực tế có hai loại thương vụ rất khác nhau.
Trường hợp thứ nhất là ngân hàng phát hành cổ phiếu mới cho nhà đầu tư chiến lược. Ví dụ, ngân hàng đang có 100 đồng vốn chủ sở hữu và phát hành thêm để thu về 30 đồng tiền mới. Khi đó thì, tiền thực sự đi vào ngân hàng, tức là vốn chủ tăng từ 100 lên 130 đồng, hệ số CAR được cải thiện và ngân hàng có thêm dư địa để mở rộng bảng cân đối, tăng trưởng tín dụng và tạo ra lợi nhuận trong tương lai. Đây là dạng thương vụ có tác động nền tảng trực tiếp nhất.
Trường hợp thứ hai là cổ đông hiện hữu bán cổ phần của mình cho nhà đầu tư mới. Ví dụ, một cổ đông đang sở hữu 15% ngân hàng và bán lại toàn bộ phần này cho một ngân hàng nước ngoài. Khi đó, tiền đi từ người mua sang cổ đông cũ, chứ không đi vào ngân hàng. Nên là sẽ vốn chủ không tăng, hệ số CAR không tăng và ngân hàng cũng không có thêm dư địa tín dụng chỉ nhờ thương vụ này.
Nhưng mà cái thương vụ loại hai này vẫn rất quan trọng vì nó tạo ra một chuẩn so sánh về định giá. Bởi vì nếu một nhà đầu tư chiến lược chấp nhận bỏ ra một lượng tiền lớn để mua cổ phần ở mức P/B 2 lần, thì thị trường sẽ có thêm một mức giá tham chiếu đáng chú ý, bởi đây thường là quyết định được đưa ra sau quá trình thẩm định rất sâu về chất lượng tài sản, về lợi nhuận, quản trị và triển vọng của ngân hàng. Ngoài ra, thì trong cả hai trường hợp, nếu đối tác là một tổ chức tài chính lớn thì ngân hàng vẫn có thể nhận thêm giá trị về công nghệ, sản phẩm, quản trị và đặc biệt là mạng lưới khách hàng.
Vì vậy, khi nghe tin một ngân hàng “bán 15% vốn”, thì cái câu hỏi đầu tiên mà Vinh đặt ra không phải là bán ở P/B bao nhiêu, mà là: ai đang bán? Ngân hàng phát hành cổ phiếu mới, hay là cổ đông hiện hữu đang bán lại phần sở hữu của mình?. Bởi vì cùng được gọi là “bán vốn”, nhưng mà về bản chất kinh tế và tác động nền tảng, thì đây là hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau.
Và nếu anh chị đang cần một chiến lược đầu tư chi tiết hơn dựa theo câu chuyện này, anh chị liên hệ cho Vinh nhé. Hoặc tham gia cộng đồng đầu tư theo đường link bên dưới để cập nhật thêm những thông tin về thị trường.
1 week ago | [YT] | 8
View 1 reply
Hoàng Vinh Stock
Nếu nhìn lại 6 năm qua, nhóm ngân hàng đã đi qua nhiều trạng thái rất khác nhau, từ vùng định giá cao khi tăng trưởng được kỳ vọng mạnh, đến những giai đoạn bị chiết khấu sâu trong COVID, cú giảm 2022 hay thời điểm căng thẳng thuế quan. So với những mốc đó, mặt bằng hiện tại cho thấy một bức tranh khá rõ, đó là đa số ngân hàng đã hồi phục khỏi vùng đáy nhưng vẫn chưa trở lại vùng định giá cao của lịch sử.
Điều này thể hiện rõ hơn ở P/B, khi phần lớn cổ phiếu vẫn đang giao dịch dưới mức trung bình 6 năm và còn cách khá xa vùng đỉnh. Tức là thị trường đã bắt đầu trả giá cao hơn cho triển vọng lợi nhuận, nhưng chưa đến mức hưng phấn. Những ngân hàng như VCB, BID, VPB, ACB, MBB, TCB hay HDB vẫn còn khoảng cách nhất định so với định giá lịch sử, trong khi STB và đặc biệt LPB đã được định giá cao hơn đáng kể so với mặt bằng trung bình, nó cho thấy kỳ vọng tích cực đã phản ánh vào giá nhiều hơn.
Vì vậy, câu chuyện hiện tại không còn là “cả ngành ngân hàng đều rẻ”, mà là “mặt bằng ngành chưa đắt, nhưng mức độ hấp dẫn đã phân hóa mạnh”. Cơ hội tốt hơn nằm ở những ngân hàng mà lợi nhuận đang bước vào chu kỳ tăng nhưng P/B vẫn chưa được định giá lại tương xứng.
Và nếu anh chị đang cần tìm kiếm một cổ phiếu ngân hàng vừa định giá hấp dẫn mà vừa có câu chuyện tăng trưởng, anh chị liên hệ cho Vinh nhé. Hoặc tham gia cộng đồng đầu tư theo đường link bên dưới để cập nhật thêm những thông tin về thị trường.
2 weeks ago | [YT] | 5
View 1 reply
Load more