Kính mời quý vị cùng chúng tôi ôn cổ minh kim, khám phá bí ẩn của vũ trụ, sinh mệnh và thân thể người, cùng ôn lại những câu chuyện văn hóa truyền thống, đề cao đạo đức, nhân tâm hướng thiện.
Vương Duy (700 – 761), tự là Ma Cật, là một đại thi nhân, họa sĩ và nhạc gia thời Thịnh Đường. Thơ ông miêu tả sự vật tinh tế, sinh động, đầy thần thái; ngôn từ thanh nhã, thoát tục, thể hiện trình độ nghệ thuật cao siêu, phong cách thơ của ông độc đáo, tự thành một trường phái riêng. Ông giỏi nhiều thể loại thơ, thành thạo trong việc sáng tác nhiều đề tài. Vương Duy cùng với Lý Hân, Cao Thích, Sầm Tham và Vương Xương Linh hợp lại với nhau được gọi là “Vương Lý Cao Tằng”, đại diện cho dòng thơ “biên tái” (thơ viết về vùng biên ải); ông cùng Mạnh Hạo Nhiên hợp lại được gọi là “Vương Mạnh”, đại diện cho dòng thơ điền viên (thơ về cuộc sống thôn quê). Những kiệt tác thơ biên tái của ông đa số là thất ngôn cổ thi, còn trong các bài thơ điền viên nổi bật đa phần là các bài ngũ ngôn luật thi. Về “thiền thi” (thơ mang tư tưởng thiền), ông lại càng xuất chúng, từ xưa đến nay không ai theo kịp, nên được tôn xưng là “Thi Phật”. Nhiều tuyệt phẩm lưu truyền rộng rãi của ông thuộc thể ngũ tuyệt: chỉ vỏn vẹn 20 chữ nhưng đã thể hiện trọn vẹn tâm tư, cảm xúc và triết lý mà trăm ngàn năm sau người ta vẫn đàm luận mãi không hết. Những bài thơ nổi tiếng của ông bao gồm: “Lộc Trai”, “Trúc Lý Quán”, “Sơn Trung”, “Tương Tư” và “Tạp Thi (kỳ 2)”… Vương Duy cũng là bậc thầy hội họa, ông giỏi vẽ các thể loại tranh phá mặc sơn thủy (tranh phong cảnh vẽ bằng lối phá mực) và tùng thạch (tranh vẽ tùng trên đá), ông cũng giỏi vẽ nhân vật, chân dung, và khóm trúc. Bút lực của ông hùng tráng, ông là người đi đầu trong việc sử dụng kỹ thuật thuân pháp (vẽ bằng các đường ngắn gãy) và tuyển vựng (tô màu loang) để tạo chiều sâu bố cục, đặc biệt là với cảnh bình viễn (cảnh xa bằng phẳng). Ông được hậu thế suy tôn là tổ sư của “Nam Tông” và người đứng đầu trong số các văn nhân vẽ tranh. Tác phẩm hội họa “Võng Xuyên Đồ”, vẽ những dãy núi trập trùng, cây cối um tùm, mây trôi nước chảy. Tô Thức thời Bắc Tống từng khen ông rằng: “Trong thơ có họa, trong họa có thơ”.
Vương Duy mồ côi cha từ sớm, mẹ ông là một cư sĩ Phật giáo rất thành kính, điều này có ảnh hưởng lớn đến việc sau này ông ăn chay và tu Phật cả đời. Những thăng trầm trong cuộc sống của ông lại càng góp phần khiến ông nhìn cuộc đời nhẹ nhàng và kiên định với lòng tin vào Phật: năm 21 tuổi, ông đỗ tiến sĩ và được bổ nhiệm làm Đại Nhạc Thừa. Nhưng vì một nhóm đào hát biểu diễn điệu múa sư tử vàng phạm tội mà bị liên lụy, ông bị giáng chức làm Tư Thương Tham Quân ở Tế Châu. Đến thời loạn An Sử, ông bị An Lộc Sơn bắt giam và buộc phải nhận chức quan của quân phản loạn. Sau khi loạn lạc được dẹp yên, ông lại vì chuyện này mà bị bỏ tù. Một năm sau, Túc Tông xét thấy ông vô tội nên tha bổng, sau đó trong vài năm, ông liên tiếp được thăng chức đến chức Thượng Thư Hữu Thừa – một chức quan lớn. Có điều lúc này ông đã vào tuổi xế chiều, từ lâu đã xem nhẹ hồng trần rồi.
Trong suốt cuộc đời, ông đã có nhiều thời gian sống ẩn cử. Trước năm 18 tuổi, ông đã từng ẩn cư. Năm 729, ông ẩn cư tại vùng Kỳ Thượng, sau đó chuyển đến núi Tung Sơn, lần này là do từ quan về ở ẩn, cho đến năm 734 mới được triều đình bổ nhiệm làm Hữu Thập Di. Từ năm 741 đến 745, ông lại ẩn cư ở núi Chung Nam. Đến năm 748, ông mua lại biệt viện Võng Xuyên ở Lam Điền của Tống Chi Vấn, từ đó sống cuộc đời nửa làm quan nửa ẩn sĩ, cho đến năm 756 thì bị An Lộc Sơn bắt giữ. [1] Căn cứ vào thơ của ông thì thấy, vào khoảng 40 tuổi, ông đã có tâm tu Đạo. [2] Về cuối đời, ông chủ yếu sống trong thành, trong nhà thường nuôi dưỡng mười mấy vị tăng nhân để cùng nhau giao lưu thể ngộ tu Phật; sau mỗi buổi chầu về, ông lại đốt hương ngồi thiền một mình, chuyên tâm tu tập thiền định.
Trong lúc ẩn cư, ông thường leo núi, bái chùa, cầu Đạo vấn thiền, lòng đầy khát vọng ẩn cư nơi núi rừng thanh tĩnh. Có lúc ông men theo những con đường nhỏ hiểm trở, quanh co uốn lượn mà leo lên đỉnh núi, những ngọn núi kỳ lạ chỉ thẳng lên trời, trên đầu là những tảng đá lớn lởm chởm như muốn rơi xuống bất cứ lúc nào; thác nước và suối reo vang như sấm, tung bọt trắng xóa; cùng các thiền sư trong núi đi đường, có khi bắt gặp bầy khỉ đang nhặt hạt dẻ, lúc trở về lại tình cờ gặp đàn hạc tiên đang làm tổ trong rừng tùng; cây cầu nhỏ đi qua chỉ là thân cây đổ được gác tạm qua suối, hàng rào nơi ở chỉ là những sợi dây leo trên cây lớn buộc tạm lại thành. Khi về tới nơi, khép cửa đá lại, ông an tâm đả tọa, đến khi mở cửa đá một lần nữa thì cỏ ngoài sân đã mọc cao rậm rạp rồi! [3] Có lúc ông leo lên một ngọn núi thật cao, sau rừng trúc sâu là một hang đá dùng làm nơi cư trú, đêm đến khi mọi vật tĩnh lặng, ông nghe được tiếng suối chảy róc rách từ xa vọng lại; từ dưới nhìn lên, chỗ ấy đã là nơi cao vút giữa mây trời, vậy mà ông lại đang nằm nghỉ yên bình ở đây, cảm giác ấy khiến ông thấy lưu trú tạm thời thật chẳng đủ, mà chỉ muốn được ở lại đây mãi mãi. [4] Có lần ông du ngoạn đến một số ngôi chùa trên núi, nơi đó mãnh hổ sống hòa thuận với người, những con khỉ còn có thể học theo người tham thiền đả tọa, khoảnh khắc ấy khiến người ta cảm nhận được Phật quốc hiện ra ngay trước mắt, còn thế gian con người thì trở nên xa xăm mờ ảo, cũng khiến ông tự thấy hổ thẹn với đời sống quan trường mà mong mỏi được sống suốt đời ở nơi đây để tu Phật. [5]
Ngoài những lý do đã kể trên khiến Vương Duy hướng về cửa thiền, thì nỗi khổ và sự giày vò của sinh lão bệnh tử trong đời người cũng là một loại lực lượng thúc đẩy và khai mở tâm linh: có lúc ông ngồi lặng lẽ suy ngẫm giữa đêm khuya, nghĩ đến tóc mai hai bên ngày một bạc trắng, chẳng thể nào đen trở lại, dù có vạn lượng vàng cũng đành bất lực, không khỏi cảm thấy nỗi bi thương dâng trào, và cuối cùng ngộ ra rằng chỉ có học Đạo, thoát khỏi luân hồi mới có hy vọng. [6] Lại có lúc ông hồi tưởng, cảm giác bản thân mới hôm qua còn là chàng thanh niên mặt mày hồng hào rạng rỡ, vậy mà hiện nay răng đã hỏng, sắc diện tàn phai, tóc bạc đã sớm phủ kín đầu; không chỉ vậy, bao nhiêu chuyện thương tâm trong đời cũng cùng lúc trỗi dậy trong tâm. Trước sự giày vò cả thân lẫn tâm như vậy, ngoài việc chăm chỉ tu hành nơi cửa Phật, còn biết đi đâu để giải thoát đây! [7]
Khi đã có đạo tâm kiên định và tu vi chuyên cần, quay đầu nhìn lại cõi đời sẽ có một thế giới quan hoàn toàn khác: bệnh tật trong đời chẳng qua cũng từ chấp trước vào yêu và hận mà sinh; cảm thấy mình nghèo khổ rồi sinh lòng oán trách, chẳng qua cũng bởi có tâm tham dục; con người trong mê lại thành ra lưu luyến cõi trần gian đầy bệnh tật và nghèo khổ này, đối với sinh tử qua lại, lục đạo luân hồi lại không biết chán, lại không hề hay biết rằng sở dĩ con người đến thế gian này chính là vì đã khởi phàm tâm. [8] Những vọng tưởng điên đảo này của con người giống như những con rồng độc quấn chặt bản thân, không thể tự giải thoát, chỉ có tu tập thiền định mới có thể chế ngự những vọng niệm này. [9] Người tu Đạo sau khi nhìn thấu những lý này rồi tự nhiên sẽ an vui với cuộc sống tu Đạo nghèo khó. [10] Hơn nữa, thuận theo việc tâm tính đề cao, cái nhìn về khổ và vui cũng khác với người thường, thường cảm thấy vui mừng khi có sự giác ngộ trong tĩnh lặng, và từ đó dần dần tạo nên khoảng cách với người thường. [11]
Trong thơ của mình, Vương Duy còn nhắc đến một số sự tình cụ thể trong tu luyện: ông thích đọc những truyện ký về các cao tăng đắc Đạo, đôi khi nghiên cứu cả phương pháp tu luyện tịch cốc; ông khắc đầu gậy thành hình chim cu gáy, lấy mai rùa làm vật kê dưới chân giường; khi không có việc gì làm thì đốt hương dưới cửa sổ phía Bắc và ngồi đả tọa. [12] Khi ẩn cư trong núi, ông cùng một nhóm người tụng thiền, cảm nhận được niềm vui khác biệt so với khi ngồi thiền một mình. [13] Trong thời gian ẩn tu tại núi Tung Sơn, ông còn từng có trải nghiệm bế quan tu luyện. [14]
Làm điều ác giống như mài dao trên đá, tuy nhìn không thấy hao tổn rõ rệt, nhưng mỗi ngày tiêu giảm một chút, dần dần bị mòn đi; tu thiện thì như cỏ xuân trong vườn, tuy chẳng thấy nó lớn lên, nhưng mỗi ngày một cao. Không ai hay biết, thuận theo năm tháng trôi qua, Vương Duy đã tu luyện đến cảnh giới cực cao “mắt nhìn mà không nhiễm, lòng rỗng mà không mê”. [15] Khi tu được đến trình độ cao, tự nhiên sẽ xuất hiện một số công năng, nhưng bản thân ông lại không xem trọng điều đó. Đối với thành tựu rất cao của mình trong thơ ca và hội họa, ông chỉ khiêm nhường giải thích rằng: “Ta từ nhiều đời đã là người tinh thông thơ văn, mà đời trước là một họa sĩ. Vì những thói quen xưa kia chưa dứt hết, nên đời này lại bị người đời phát hiện ra thôi”. [16] Tu luyện mười mấy hai mươi năm mà có được công năng như túc mệnh thông cũng chẳng có gì lạ; lời giải thích của ông không chỉ hợp tình hợp lý mà còn rất phù hợp với các quy luật nghiên cứu về luân hồi trong giới học thuật phương Tây hiện đại...
[ChanhKien.org] Câu chuyện này xảy ra ở vùng Triết Giang vào thời nhà Nguyên. Nơi đây từng có lần xảy ra một trận lũ lụt lớn, nước lũ tuy không quá lớn nhưng cũng đã nhấn chìm rất nhiều đồng ruộng và làng mạc. Cũng may trận lụt xảy ra vào ban ngày, rất nhiều người biết được thông tin nên phần lớn người dân đều đã di tản một cách an toàn.
Chỉ còn sót lại một gia đình có hai mẹ con. Người mẹ bị đau chân, cô con gái mới 15-16 tuổi. Nhà cô nằm ở vùng trũng, nên lũ lụt trong nháy mắt đã vào đến cửa. Mẹ cô nài nỉ: “Con mau chạy đi, đừng lo cho mẹ!” Cô con gái nhất định không chịu, muốn cõng mẹ ra ngoài, nhưng thân con gái như cô sao có thể cõng nổi mẹ già? Thuận theo nước lũ không ngừng dâng cao, ngôi nhà cũng bắt đầu nghiêng sang một bên. Mẹ cô dốc hết sức lực đẩy cô con gái ra ngoài lên chỗ cao hơn một chút, trong nháy mắt căn nhà đổ sụp xuống, người mẹ đã vùi thân trong dòng nước lũ. Cô gái thấy vậy liền ngất đi.
Rất lâu sau cô tỉnh lại, phát hiện mình đang nằm trên một con thuyền nhỏ. Vợ của thuyền phu vừa thấy cô tỉnh lại liền bưng nước nóng đến cho cô, giúp cô sưởi ấm người. Khi cô nhớ lại được mọi chuyện, trước tiên cô cảm tạ ơn cứu mạng của vợ chồng thuyền phu. Sau đó, cô bắt đầu òa khóc. Bởi cô từ nhỏ đã nương tựa vào mẹ mà sống, sự ra đi của mẹ là một cú sốc lớn đối với cô. Người thuyền phu an ủi: “Con à, trong trận lũ này, không chỉ có mình mẹ con bị nước lũ cuốn đi mà còn có nhiều người khác cũng cùng cảnh ngộ như vậy, đúng là thiên tai mà!” Cô gái đau xót nghĩ: “Ông Trời chẳng phải có đức hiếu sinh sao, cớ sao lại không ngăn cản thiên tai này? Cớ sao lại bắt người ta nếm trải nỗi thống khổ của sinh ly tử biệt chứ?” Mấy hôm sau lại xảy ra lũ lụt, vì họ ở trên thuyền nên cũng không việc gì. Thuyền phu là người rất trượng nghĩa, ông dẫn theo vợ và cô gái nhỏ chèo thuyền khắp nơi để cứu người. Mấy lần họ suýt bị những người rơi xuống nước kéo xuống. Trong lần cứu người cuối cùng, hai vợ chồng thuyền phu đều bị nước lũ cướp đi sinh mệnh. Trên thuyền chỉ còn lại một mình cô gái. Cô không đủ sức để kéo cái mái chèo nặng nề, chèo được một lát thì mệt rã rời. Cô đành tuyệt vọng nằm trong lòng thuyền, mặc cho chiếc thuyền cứ xuôi dòng mà lênh đênh.
Trải qua năm ngày năm đêm, chiếc thuyền dường như đã tấp được vào bờ, nó mắc kẹt ở nơi đó. Cô gái chỉ còn thở thoi thóp. Lúc đó vừa đúng giờ ngọ, từ trên bờ vang đến âm thanh của một bà cụ gõ cái bình bát. Bà vừa gõ bình bát vừa lẩm nhẩm rằng: “Ta vốn ngoài biển từ trời đến, lưu lạc bờ biển một vùng này, cầm bát hóa duyên thật tự tại, như ngọc như hoa đến khi nào? Như ngọc như hoa đến khi nào?” Cô gái nhỏ nghe xong, không biết sức lực từ đâu đến mà hô lên rằng: “Hoa sen như ngọc là thứ cháu thích nhất!” Bà cụ nghe thấy mừng rỡ chạy một mạch đến bên chiếc thuyền, thấy cô gái chỉ còn hơi thở thoi thóp. Bà ôm cô vào lòng, thật hiền từ giống như bà nội với cháu gái vậy.
Về sau cô cùng bà cụ đi xin ăn. Mười năm sau, vào một đêm mưa to gió lớn, họ nghỉ ngơi trong một ngôi miếu hoang, bà cụ hỏi cô: “Tại sao con lại thích hoa sen và thích ngọc vậy?” Cô cười nói rằng: “Con cảm thấy làm người thì nên cao quý như là hoa sen và thuần tịnh, cứng cỏi như ngọc vậy.”
Bà cụ nghe xong vui mừng nói: “Trên thế gian này, những người có thể đồng thời thích hai thứ này thật sự không nhiều! Con xem nơi này ngay cạnh biển cả, người ta thường xuyên đi biển, nhưng cũng thường có người chôn thân nơi đáy biển, ta thật sự không nhẫn tâm. Vậy nên ta thường đi xin ăn trên bờ biển, phàm là những người cho ta cơm ăn, chỉ cần họ không làm những chuyện giết người hại mệnh, trộm cướp, ta sẽ gắng hết sức giúp họ vượt qua kiếp nạn trong sóng gió.”
Cô gái nghe xong cảm thấy lời của bà cụ có ẩn ý sâu xa, liền hỏi: “Lão nhân gia, lẽ nào người chính là Bồ tát Quan Thế Âm cứu khổ cứu nạn chuyển thế hay sao?” Bà cụ từ bi nói: “Ta là ai vốn không quan trọng, quan trọng là con hãy hiểu rõ một điều: nhất định phải cứu độ chúng sinh thoát khỏi nguy nan. Nhưng có một điều kiện tiên quyết: nếu như con người đều không tin vào Thần nữa, vậy thì cứu họ chính là làm trái với lẽ Trời.” Cô gái nghe xong lập tức hiểu rõ. Cô quỳ xuống dập đầu, mong lão nhân gia có thể đem năng lực cứu khổ cứu nạn truyền cho cô, tương lai cô cũng muốn ở nơi này cứu độ chúng sinh khỏi nguy nan! Lão nhân gia thấy cô một lòng thành tâm liền thu cô làm đệ tử. Sau đó bà nói với cô rằng: “Thật ra khi con ở quê nhà vùng Triết Giang, ta đã dõi theo con rồi, bởi căn cơ của con rất tốt, là người hiếu thuận, trượng nghĩa. Lúc đó, con tuy còn nhỏ tuổi, nhưng luôn hết lòng hết sức giúp đỡ người khác. Mẹ của con tuy chôn thân trong nước lũ, nhưng nhờ con tu hành, mẹ của con cũng sẽ có đại phúc báo chờ đợi bà. Vợ chồng thuyền phu cũng vậy. Thật ra, cớ sao cuộc đời con lại phải trải qua những khổ nạn này, chính là để con nhìn thấu những hư huyễn và vô thường của đời người, đề con không có lòng tham luyến cõi trần. Suốt 10 năm nay, chúng ta cùng nhau đi xin ăn, gặp đủ các dạng các loại người, vô luận người khác đối xử với chúng ta thế nào, ta đều không xem trọng, phàm là những người cho ta cơm ăn, ta đều sẽ tận lực giải thoát cho họ trong nguy nan. Còn những người đối xử rất ác với chúng ta, ta cũng cấp thêm cơ hội cho họ. Những người nào thật sự tâm ma nhiễu loạn thì chẳng còn cách nào, đành phó mặc họ thôi.” Nghe xong những lời khải thị này, cô càng thêm kiên định tín tâm theo sư phụ tu hành.
Thấm thoắt lại 20 năm nữa trôi qua. Cô thiếu nữ năm xưa giờ đã là một phụ nữ trung niên khoảng hơn 50 tuổi. Một ngày kia, bà cụ nói với cô rằng: “Ta có việc cần phải đi rồi, những việc còn lại, tự con hãy tùy tình huống mà làm. Phải rồi, ta chọn con làm đồ đệ duy nhất của ta chính là hy vọng con có thể làm tốt những việc vốn thuộc về ta.” “Sư phụ, những việc của người là gì vậy?” Cô hiếu kỳ hỏi. Bà cụ bảo cô xoay người đi, đến khi cô quay đầu nhìn lại thì bỗng ngẩn người ra: không thấy bà cụ vốn bị mù hai mắt đâu nữa, chỉ thấy một vị Bồ tát uy nghiêm vô tỷ đang đứng trước mặt cô. Vẻ từ bi, thù thắng đó dẫu dùng bất cứ ngôn ngữ nào của nhân gian cũng không có cách nào diễn tả được. Cô cúi xuống bái lạy. Bồ tát chỉ tay một cái, thấy biển cả mênh mông bỗng nổi trận cuồng phong tứ bề, vô số con thuyền nhỏ đáng thương đang lênh đênh ở đó, Bồ tát chìa bàn tay ngọc còn lại thu rất nhiều thuyền nhỏ vào trong tay, có một số thuyền nhỏ thì lật chìm xuống đại dương mênh mông. Nhìn kỹ những con thuyền nhỏ được Bồ tát giữ trong bàn tay ngọc kia, trên mạn thuyền đều có một chữ “phúc” hoặc “đức”. Còn trên mạn những con thuyền bị lật chìm xuống đại dương bao la kia hầu hết đều có một vết đen hoặc vòng tròn màu đen rất lớn.
Sau khi triển hiện cho cô thấy những cảnh này, thân thể Bồ tát bắt đầu phiêu đãng bay lên. Cô quỳ xuống đất nghênh tiễn sư phụ. Khi thân thể Bồ tát bay đến giữa không trung, Bồ tát nói:
Thương xót chúng sinh đến thế gian
Thiện ác một niệm thấu trời xanh
Con cầm bát ta kết duyên tiếp
Từ bi cam lộ độ nguy nan!
Cô nghe những lời khai thị này, trong lòng đã hiểu rõ hơn một nửa, trong những năm tháng về sau, dấu chân của cô đã đi khắp các vùng ven biển, không ngừng dùng phương thức hóa duyên để kết duyên với chúng sinh, giáo hóa chúng sinh. Trong thời gian đó cô cũng không ngừng thăng hoa tâm tính của bản thân, cuối cùng khi ở tuổi 99, cô đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình mà viên mãn về Trời.
Ở thiên giới, cô gặp lại mẹ ruột của cô và hai vợ chồng thuyền phu. Để cảm tạ ơn cứu mạng nơi cõi người của mẹ cô và vợ chồng thuyền phu, cô đã phong cho họ làm Thiên Thần hộ Pháp.
Bản sao các bài thơ của “Lan Đình tập tự”. (Ảnh: Shenyun.com)
Năm 353 (năm Vĩnh Hòa thứ 9 triều vua Tấn Mục Đế), vào ngày mùng 03 tháng 03 âm lịch Vương Hi Chi cùng các nhân sĩ nổi tiếng như Tạ An, Tôn Xước… tổng cộng có 41 người cùng tổ chức hội thơ ở Lan Đình tại núi Hội Kê thuộc huyện Sơn Âm (nay thuộc Triệu Hưng, Chiết Giang). Những người dự hội đã sáng tác thơ phú nói lên hoài bão của mình và chép thành một tập, sau đó mọi người đề nghị người mở hội – nhân sĩ Vương Hi Chi đức cao vọng trọng viết lời mở đầu ghi lại buổi nhã hội này, chính là bức “Lan Đình tập tự”.
Bức “Lan Đình tập tự” có một vị trí cực cao trong lịch sử văn học, và trong lĩnh vực thư pháp nó cũng đạt đến vị trí đỉnh cao mà chưa tác phẩm nào có thể vượt qua.
Chúng ta đều biết rằng Vương Hi Chi là một nhà thư pháp vĩ đại, kỳ thực ông còn là một đạo sỹ. Trong quyển “Tấn Thư” Vương Hi Chi viết rằng: “Thế sự Trương thị Ngũ đấu mễ đạo, hựu tinh thông thư đạo”, nghĩa là chuyện thế sự của người họ Trương là đạo năm đấu gạo, lại tinh thông thư pháp. Nhiều thế hệ trong đại gia tộc Vương Hi Chi đều là những tín đồ Đạo giáo thành tín, vị tổ mà họ tín phụng chính là ông tổ Trương Đạo Lăng của phái Thiên Sư Đạo. Trong bộ sách “Tiềm phu luận” của Vương Phù đời Hán có đoạn ghi chép: “Nhân thị Vương thị, kỳ hậu tử tôn, thế hỉ dưỡng tính, thần tiên chi thuật” (Thế là từ đó con cháu họ Vương đều thích tu tâm dưỡng tính, học phép thuật của Thần tiên). Vương Hi Chi thường “cùng đạo sỹ Hứa Mại tu luyện, uống đan dược, vượt ngàn dặm hái thuốc, đi khắp các quận phía Đông, vượt khắp danh sơn, băng qua biển thẳm”. Lối thư pháp của ông vì thế mà cũng bị ảnh hưởng bởi văn hóa Đạo giáo. Những khi nhàn rỗi Vương Hi Chi hay sao chép kinh sách Đạo giáo, trong đó nổi tiếng nhất là bản chép tay “Hoàng Đình Kinh”, do vậy giải thích từ góc độ tu luyện thì tuyệt phẩm “Lan Đình tập tự” cũng là tự nhiên thuận bút thành văn, nếu từ tầng của người thường thì thực sự không thể giải thích được.
Sau đây chúng ta hãy cùng phân tích nội dung bức “Lan Đình tập tự”:
Vĩnh Hòa cửu niên, tuế tại Quý Sửu, mộ xuân chi sơ, hội vu Cối Kê Sơn Âm chi Lan Đình, Tu Hễ sự dã. Quần hiền tất chí, thiếu trưởng hàm tập. Thử địa hữu sùng sơn tuấn lĩnh, mậu lâm tu trúc; hựu hữu thanh lưu kích thoan, ánh đới tả hữu. Dẫn dĩ vi lưu trường khúc thuỷ, liệt tọa kỳ thứ; tuy vô ty trúc quản huyền chi thịnh, nhất trường nhất vịnh, diệc túc dĩ sướng tự u tình. Thị nhật dã, thiên lãng khí thanh, huệ phong hòa sướng; ngưỡng quan vũ trụ chi đại, phủ sát phẩm loại chi thịnh; sở dĩ du mục sính hoài, túc dĩ cực thị thính chi ngu, tín khả lạc dã.
Tạm dịch: Năm Kỷ Sửu, Vĩnh Hòa thứ chín, sắp vào tiết xuân; cùng họp nhau nơi Lan Đình, phía Bắc núi Cối Kê, chuẩn bị lễ Tu Hễ [1]. Những hiền sĩ, già có trẻ có, đều đến tụ họp. Nơi ấy có núi cao chót vót, rừng xanh rậm rạp, trúc dài tươi tốt, thêm suối trong cuộn chảy, lấp loáng bóng đôi bờ. Theo dòng nước uốn lượn có thể thả chén rượu đặt lời thơ, chia thứ bậc cùng ngồi. Tuy không có tiếng đàn sáo rộn rã nhưng một chén rượu, một lời ngâm cũng đủ để giãi bày tâm tình sâu kín. Hôm ấy trời cao khí trong, gió nhẹ lâng lâng, ngẩng nhìn vũ trụ mênh mông, cúi xem vạn vật phồn vinh, phóng tầm mắt, mở cõi lòng, đủ để tận hưởng hết cái hứng thú của tai mắt, thực là vui vậy.
Ở hai đoạn đầu này lời văn được viết trong sáng, dễ hiểu. Rõ ràng là Lan Đình và khung cảnh xung quanh trông rất đẹp, đến một kẻ phàm phu cũng phải thấy lâng lâng tức cảnh sinh tình. Khi luận giải “Lan Đình tập tự” người ta cũng chỉ có thể hiểu đến thế mà thôi. Tuy nhiên có một điểm mà người bình thường không nhận thức ra được: Vương Hi Chi và các danh sĩ đều là những người tu Đạo, buổi họp mặt này kỳ thực chính là buổi giao lưu chia sẻ tu luyện; hơn nữa họ đều có căn cơ rất tốt, trong đó không ít người có thiên mục khai mở đến một tầng nhất định, có thể nhìn thấy, tiếp xúc được với nhiều thứ mà người thường trong cùng một hoàn cảnh không thể nhìn thấy, chạm đến được hay tiếp thụ được. Thế nên họ mới đạt tới cảnh giới “ngẩng nhìn vũ trụ mênh mông, cúi xem vạn vật phồn vinh, phóng tầm mắt, mở cõi lòng, đủ để tận hưởng hết cái hứng thú của tai mắt, thực là vui vậy”.
Đoạn sau: Phù nhân chi tương dữ, phủ ngưỡng nhất thế, hoặc thủ chư hoài bão, ngộ ngôn nhất thất chi nội; hoặc nhân ký sở thác, phóng lãng hình hài chi ngoại. Tuy thú xá vạn thù, tĩnh táo bất đồng; đương kỳ hân vu sở ngộ, tạm đắc vu kỷ, khoái nhiên tự túc, bất tri lão chi tương chí. Cập kỳ sở chi ký quyện, tình tuỳ sự thiên, cảm khái hệ chi hĩ. Hướng chi sở hân, phủ ngưỡng chi gian, dĩ vi trần tích, do bất năng bất dĩ chi hứng hoài; huống tu đoản tùy hoá, chung kỳ ư tận. Cổ nhân vân: “Tử sinh diệc đại hĩ.” Khởi bất thống tai!
Tạm dịch: Phàm người cùng người tương hội chỉ là trong thoáng chốc của cuộc đời; có người khi giao tiếp là giữ kín hoài bão trong lòng không nói, có người vì sự ký thác mà gửi hết tâm tư vào hình hài. Tuy muôn vàn sở thích khác nhau, tĩnh động cũng khác, nhưng sự vui vẻ khi gặp nhau, dẫu trong chốc lát, (lại) chẳng biết tuổi già đang đến.
Rồi khi tự thân mòn mỏi, tâm tình theo sự vật đổi thay, lòng đầy cảm khái. Niềm vui trong khoảnh khắc giờ đây bỗng biến thành vết bụi mờ, vậy nên lòng không thể không hoài cảm. Huống chi cuộc đời dài ngắn (thường) biến hóa, rồi cũng đến lúc tận chung. Người xưa nói: “Tử sinh đều là việc lớn”, há chẳng đau lòng sao! (Có bản viết: từng chưa hay tuổi già đang đến, có bản viết: không hay tuổi già đang đến)
Nếu xét từ góc độ tu luyện thì đoạn văn trên rất dễ lý giải, nói thẳng ra những thứ như danh lợi tình mà con người chấp trước đều không bền lâu, không thể tồn tại vĩnh viễn, một khi mất đi sẽ khiến người ta phải thở dài cảm thán.
Và đoạn cuối: Mỗi lãm tích nhân hứng cảm chi do, nhược hợp nhất khế; vị thường bất lâm văn ta điệu, bất năng dụ chi ư hoài. Cố tri nhất tử sinh vi hư đản, tề Bành thương vi vọng tác. Hậu chi thị kim, diệc do kim chi thị tích, bi phù!
Cố liệt tự thì nhân, lục kỳ sở thuật, tuy thế thù sự dị, sở dĩ hứng hoài, kỳ trí nhất dã. Hậu chi lãm giả, diệc tương hữu cảm ư tư văn.
Tạm dịch: Mỗi khi xét đến cảm hứng trong văn chương của người xưa rồi cùng hợp lại, thì lòng ta lại vì lời văn mà trỗi mối u hoài không giải rõ được vì sao. Cứ khăng khăng cho rằng sống chết đều là chuyện hư dối, lấy cái thọ của Bành Tổ mà so với cái yểu của Thương Sinh thì thật ngông cuồng. Đời sau nhìn lại nay cũng như nay nhìn lại xưa, cả đều buồn thay!
Vậy đây theo thứ tự các thi nhân mà chép lại; tuy tuổi tác chẳng đồng, sự việc có khác nhưng lòng hoài cảm thì như nhất. Người sau xem lại, hẳn vì lời thơ mà gợi niềm thương cảm hơn chăng.
Điểm mấu chốt của đoạn này là câu “cứ khăng khăng cho sống chết đều là chuyện hoang đường, lấy cái thọ của Bành Tổ mà so với cái yểu của Thương Sinh thì thật ngông cuồng”. Trong sách “Tề vật luận” Trang Tử đã giải thích một cách đơn giản về quan điểm trên rằng: mọi vật đang sống là đang chết, đang chết là đang sống (phương sinh phương tử, phương tử phương sinh). Con người chết rồi nhưng nguyên thần bất diệt, nguyên thần sẽ tiến nhập vào luân hồi và một sinh mệnh mới sẽ ra đời. Đứng từ góc độ tu luyện thì rất dễ hiểu, bản thân Vương Hi Chi là người tu Đạo và đã đọc thành thục sách của Trang Tử, không thể nào không hiểu được ý tứ của tiền nhân, vì sao ông lại nói như vậy? Kỳ thực ý mà ông muốn nói chính là chỉ có tu luyện chân chính mới có thể thoát khỏi luân hồi và có được vẻ đẹp vĩnh hằng của sinh mệnh; nhưng thực tế con đường tu luyện vốn rất gian nan, một người bình thường thân đầy chấp trước, không thể buông bỏ được tí gì mà muốn đạt tới cảnh giới thoát tục là không thể nào, chỉ là “hư dối”, “ngông cuồng”.
Thế nhân luôn cảm thán rằng đời người là vô thường và cố gắng đi tìm con đường vĩnh hằng cho sinh mệnh nhưng họ lại không buông bỏ được trùng trùng chấp trước của người thường, từ xưa đến nay đều như vậy. Qua bài “Lan Đình tập tự” Vương Hi Chi đã sử dụng thủ pháp văn chương để bày tỏ quan điểm của mình.
Điểm khác biệt rất lớn giữa “Lan Đình tập tự” và các tác phẩm nổi tiếng khác được lưu truyền lại là thư pháp của Vương Hi Chi vô cùng đẹp, đẹp đến mức khiến người xem phải nín thở. Cái đẹp nằm ở kết cấu bài văn, đẹp ở kết cấu con chữ, đẹp ở chỗ bút pháp, tất cả hòa quyện lại với nhau và triển hiện đầy đủ trên bức thư pháp này, người đời xưa nay xưng tụng là “Thiên hạ đệ nhất hành thư”. Thế nhân thường dùng những câu sau trong bài “Lạc Thần phú” của Tào Thực để ca tụng vẻ đẹp của thư pháp Vương Hi Chi:...(còn tiếp)
Bạn đã bao giờ quan sát mọi người dán mắt vào điện thoại—như bị thôi miên, hoàn toàn tách rời khỏi những gì xung quanh, còn suy nghĩ và cảm xúc của họ thì bị chi phối bởi những gì hiện lên trên màn hình?
Bạn có cảm thấy chính mình cũng bị định hình bởi thời gian sử dụng màn hình không? Mắt bạn có thay đổi cách tập trung sau khi nhìn màn hình không? Cơ thể bạn có cảm thấy cứng lại không? Bạn có mệt mỏi vì dùng thiết bị điện tử quá giờ đi ngủ không?
Sau khi đặt màn hình điện tử xuống, bạn vẫn còn nghĩ về những gì đã xem hoặc vẫn đang xử lý với những cảm xúc đó phải không? Bạn có thấy mình dùng điện thoại nhiều hơn mức mong muốn không? Vô thức với tay lấy nó chỉ để xua đi sự buồn chán phải không?
Bạn không hề đơn độc.
Khoảng một nửa số người Mỹ cho biết họ cảm thấy nghiện điện thoại, với thời gian xem màn hình trung bình của người trưởng thành lên tới hơn 5 giờ mỗi ngày.
Khi những giờ đó cộng dồn lại. Với 5 giờ mỗi ngày, trong một tuần bạn sẽ dành khoảng một ngày rưỡi để xem điện thoại. Trong một năm, bạn sẽ dành 76 ngày để xem nó. Nếu bạn sử dụng điện thoại trong 40 năm, bạn sẽ dành hơn 8 năm cho nó.
Nghiện công nghệ là thuốc phiện của thời đại chúng ta, một dịch bệnh đang âm thầm bào mòn cuộc sống, làm suy yếu sức khỏe và các mối quan hệ của chúng ta.
Đó là điều mà tất cả chúng ta, những người sở hữu điện thoại thông minh, iPad hay máy tính xách tay, đều phải đối mặt.
Nhiều người trong chúng ta muốn sử dụng điện thoại ít hơn. Tin tốt là, chứng nghiện điện thoại hoàn toàn có thể vượt qua, và bạn có thể lấy lại quyền kiểm soát cuộc sống của mình.
Vì sao chúng ta bị nghiện?
Màn hình, ứng dụng và các nền tảng kỹ thuật số khác gây nghiện vì chúng được thiết kế để như vậy. Nền kinh tế dựa trên việc thu hút và khai thác sự chú ý của con người hiện có giá trị hơn 800 tỷ USD trên toàn cầu. Ánh mắt nhìn của chúng ta trên môi trường mạng trực tuyến là một ngành kinh doanh lớn, vì vậy người ta có động lực rất lớn để giữ chân chúng ta.
“Bản thân công nghệ đã mang tính gây nghiện, với những ánh đèn nhấp nháy, âm thanh hấp dẫn, ‘những chiếc bát không đáy’ và lời hứa rằng, nếu tiếp tục tương tác, phần thưởng sẽ ngày càng lớn hơn”, bà Anna Lembke viết trong cuốn sách “Dopamine Nation” (Giải Mã Hoóc-Môn Dopamine) của mình.
Bà Lembke là bác sĩ tâm thần và là giám đốc y khoa của chương trình y học cai nghiện tại Stanford.
Ông Tristan Harris, đồng sáng lập Trung tâm Công nghệ Nhân văn và từng là chuyên gia về đạo đức thiết kế tại Google, chỉ ra rằng các công ty đã bỏ ra rất nhiều công sức để biến điện thoại thành thứ mà bạn không thể đặt xuống.
“Chiếc điện thoại của bạn vào những năm 1970 không có hàng nghìn kỹ sư… mỗi ngày liên tục cập nhật cách điện thoại hoạt động để ngày càng thuyết phục người dùng hơn”, ông Harris nói trong một cuộc phỏng vấn năm 2017 trên CBS.
Ông nói rằng điện thoại di động rất giống máy đánh bạc; sự thỏa mãn gián đoạn mà chúng ta nhận được khi sử dụng khiến chúng ta quay lại nhiều hơn. Thao tác vuốt xuống và cuộn màn hình cũng mô phỏng thao tác kéo cần gạt của các máy đánh bạc kiểu cũ.
Các ứng dụng và nền tảng khác nhau sử dụng những kỹ thuật khác nhau, chẳng hạn như khai thác sở thích và những điều bạn không thích. Những nội dung bạn yêu thích mang lại cho bạn cảm giác hưng phấn (các cú hích hoóc-môn dopamine), còn các bài viết gây tranh cãi cũng khiến bạn tiếp tục bị cuốn vào...( còn tiếp) Link bài viết: chanhkien.org/2026/05/vi-sao-chung-ta-nghien-dien-…
Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
Thiếu niên thời không (37): Mùng 5 tháng 5 (âm lịch) nói chuyện “Đoan Ngọ” Biên tập: Tịnh Trúc
Dẫn chương trình: Thuần Tử
[ChanhKien.org]
Xin chào các em thiếu niên thân mến, chị là chị Thuần Tử. Thời gian như thoi đưa, chớp mắt đã lại đến mùng năm tháng năm, ngày “Tết Đoan Ngọ” truyền thống của Trung Hoa rồi. Trong chương trình của ngày hôm nay, chị Thuần Tử muốn trò chuyện cùng các em về chủ đề “Tết Đoan Ngọ” này.
“Tết Đoan Ngọ” cùng với Tết Năm Mới, Tết Thanh Minh, Tết Trung Thu được xem là bốn ngày Tết truyền thống lớn của người Hán ở Trung Quốc, tại Trung Quốc và các nước khác có nền văn hoá Hán Tự xung quanh Trung Quốc cũng được lưu hành phổ biến rộng rãi. Thế nhưng, các em thiếu niên biết không, “Tết Đoan Ngọ” thực ra lại không chỉ là như những gì chúng ta đã biết, rằng đơn giản vì để tưởng nhớ nhà thơ yêu nước Khuất Nguyên vậy đâu. Bởi vì, nó không chỉ chứa đựng triết học nhân văn và tự nhiên cổ xưa như tín ngưỡng nguyên thuỷ, văn hoá tinh tượng, văn hóa cúng tế và thiên tượng, lịch pháp của dân tộc Trung Hoa, mà còn ẩn chứa nội hàm phong phú sâu dày của văn hóa Thần truyền trung Hoa nữa đó.
Từ “Đoan Ngọ” xuất hiện sớm nhất trong «Phong Thổ Ký» của Tây Tấn. Đoan, Hán ngữ cổ có nghĩa là mở đầu, ban đầu, gọi “Đoan Ngũ” cũng gọi là “Mồng Năm”. người xưa lấy Thiên Can Địa Chi làm tải thể, Thiên Can gánh vác cái Đạo của Trời, Địa Chi gánh vác cái Đạo của Đất, thiết lập Thiên Can Địa Chi để khắc hoạ sự vận hành của Thiên Địa Nhân Sự. Người xưa ghi giờ, ghi ngày, ghi tháng, ghi năm thường dùng Thiên Can Địa Chi, căn cứ lịch Can Chi, theo tuần tự 12 Địa Chi mà tính, tháng thứ năm tức “tháng Ngọ”, ngày Ngọ tháng Ngọ gọi là “Trùng Ngọ”, mà ngày Ngọ lại là “Dương Thần”, vậy nên “Tết Đoan Ngọ” cũng gọi là Tết Đoan Dương, Tết Trùng Ngọ, Tết ngày Ngọ, Tết tháng Năm.
“Tết Đoan Ngọ” khởi nguồn vào thời Xuân Thu Chiến Quốc ở trung Quốc, thực ra còn sớm hơn cả Khuất Nguyên, đến nay đã có hơn 2000 năm lịch sử. Nhưng cả trăm ngàn năm nay, vì duyên cớ tinh thần yêu nước và thơ từ cảm động lòng người của Khuất Nguyên đã ăn sâu vào lòng người một cách phổ biến, cách nói tưởng nhớ Khuất Nguyên có ảnh hưởng sâu rộng nhất, từ đó đã giữ vị trí chủ yếu về nguồn gốc của “Tết Đoan Ngọ”. Thực ra “Tết Đoan Ngọ” là do sự diễn biến từ việc tế rồng thời thượng cổ mà ra, lưu truyền chủ yếu tại dải đất Ngô Việt phương Nam (bây giờ là vùng trung hạ sông Trường Giang và khu vực phía Nam), ban đầu là bộ tộc khu vực Bách Việt cổ đại sùng bái vật tổ rồng, chọn ngày Đoan Ngọ này làm ngày cử hành cúng tế vật tổ. Và cũng chính là nói “Tết Đoan Ngọ” thực ra là ngày mà người cổ đại cúng tế tổ rồng.
“Tết Đoan Ngọ” ngoài những cái tên như Tết Đoan Dương, Tết Trùng Ngọ, Tết Ngọ Nhật, Tết tháng Năm, Tết thuyền rồng, Tết Chính Dương, Tết Dục Lan, Tết nữ nhi, Địa Lạp, Tết thi nhân v.v…, nó còn được gọi là “Tết Thiên Trung” và “Long Nhật”. Gọi “Tết Thiên Trung” là bởi vì ngày mồng năm tháng năm này trong Hoàng lịch, là ngày mà vị trí Mặt Trời trên bầu trời nằm ở chính giữa nhất trong năm, nên mới có tên này. Trong của «Ấu Học Quỳnh Lâm bút đàm» đã đặc biệt nhắc đến “mồng năm tháng năm, tự hiệu thiên trung”.
Vậy tại sao còn gọi là “Long Nhật” nhỉ? Nói đến vấn đề này thì khá phức tạp rồi, bởi vì điều này có liên quan đến học thuyết tinh tượng cổ xưa của dân tộc Trung Hoa chúng ta. Trong thời Trung Quốc cổ đại, các học giả tinh tượng xem toàn bộ vũ trụ thiên không là một thiên cầu cực đại, từ góc nhìn của người quan sát trên Trái Đất thấy quỹ đạo Mặt Trời chuyển động trên thiên cầu, cũng chính là nói quỹ đạo được hình thành khi Trái Đất xoay quanh Mặt Trời một vòng trên tuyến đường hình chiếu của thiên cầu, gọi là “Hoàng đạo”, “Hoàng lịch” mà chúng ta hiện tại đang sử dụng chính là hình thành dựa theo quỹ đạo vận hành của “Hoàng đạo”, “ngày tốt Hoàng đạo” mà chúng ta thường nói chính là được tính ra theo nguyên lý như thế đó.
Để quan trắc tình trạng vận hành của Mặt Trời, Mặt Trăng và ngũ tinh Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ, các nhà tinh tượng cổ đại lấy “Hoàng đạo” và những vì sao gần khu vực xích đạo, chiểu theo bốn phương vị Đông, Nam, Tây, Bắc phân thành bốn Cung, mỗi Cung bao gồm bảy chòm sao, sau đó lấy bảy chòm sao này kết nối thành hình tượng con động vật, lại phân biệt với bốn loại màu sắc Xanh, Đỏ, Trắng, Đen, sau khi kết hợp lại thì trở thành Nhị thập bát tú mà chúng ta nói đến hiện nay: Đông Thanh Long (rồng xanh ở phương Đông), Nam Chu Tước (sẻ đỏ ở phương Nam), Tây bạch Hổ (hổ trắng ở phương Tây) và Bắc Huyền Vũ (rùa đen ở phương Bắc). Cách nói “Thiên chi tứ linh, dĩ chính tứ phương” do vậy mà có.
Các em thiếu niên thân mến, chúng ta đều biết Trung Quốc nằm tại phương Đông của thế giới, mà sau khi bảy chòm sao phương Đông “Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ” liên kết lại tổ thành hình tượng tinh tượng là một hình rồng hoàn chỉnh, vì phương Đông lại đại biểu là màu xanh, cũng là màu của thương khung, vậy nên rồng xanh phương Đông cũng gọi là “thương long thất tú”. Dân tộc Trung Hoa được gọi là “truyền nhân của rồng” có lẽ cũng từ đây mà ra.
Ngày Đoan Ngọ giữa mùa hạ, sao rồng lên đến vị trí cao thiên trung chính Nam, đã “đắc trung” lại “đắc chính”, là ngày rồng bay lên trời, như trong quẻ Hào Từ của Hào thứ năm trong «Kinh Dịch – Càn Quái» nói: “Phi long tại thiên” (rồng bay trên trời). Cho nên người ta còn gọi “Tết Đoan Ngọ” là ngày “Long Nhật”.
Rồng đối với người xưa mà nói, tuy mắt thịt khó thấy nhưng lại tồn tại chân thực, vậy nên trong văn hoá Đạo gia cổ xưa, rồng đã là loài vật có thật, lại có thể đại biểu cho tất cả sự vật có cùng tính chất với Nó. Ví như đến Đoan Ngọ, thì người ta sẽ biết rồng bay trên trời, lúc này rồng đại biểu cho tất cả những sự vật mang tính cường dương.
Người Trung Quốc coi trọng “thiên nhân hợp nhất”, đối ứng với Trái Đất và con người, thì sẽ biết lúc này dương khí của Trái Đất sẽ vô cùng mạnh mẽ vào giữa trưa. Lúc mà dương khí của Trái Đất bốc lên vị trí cao nhất thì cũng sẽ giống như một con rồng vậy, rất nhanh hình thành những cơn mưa, khiến khí long dương giáng hạ xuống rồi dần dần ngấm vào đất, hình thành sự giao thoa của nước lửa âm dương, sinh sôi không ngừng. Vậy nên trước và sau “Tết Đoan Ngọ” sẽ có mưa, dân gian cũng có câu nói “Đoan Ngọ nước dâng”.
Lúc dương khí bốc lên đến giữa trời, cơ thể người cũng sẽ thuận theo sự biến hoá của khí tượng thời tiết mà điều chỉnh cảm ứng theo. Giống nguyên lý trời nóng thì tự động có mưa vậy, khi khí long dương của cơ thể người tăng lên đến bề mặt theo khí thiên dương, thì người sẽ tiết mồ hôi tự động điều tiết nhiệt độ cơ thể. Cho nên trung y truyền thống nói rằng mùa hè cần dưỡng dương, chính là cần thuận theo sự lớn mạnh của dương khí của giới tự nhiên, để cơ thể tiết mồ hôi, nhằm điều tiết âm dương cân bằng, khiến tiểu vũ trụ thân người đồng bộ với thiên tượng.
Thế nhưng, lúc mà dương khí của Trái Đất dâng lên đến đỉnh điểm cao nhất, thì cũng có nghĩa là dưới lòng đất dương khí không đủ. Theo ghi chép của «Lễ Ký – Nguyệt Lệnh», thì tháng Năm là tháng có dương khí mạnh mẽ nhất, đồng thời, dương đến chỗ cực điểm tất chuyển thành âm, vậy nên âm khí cũng sẽ bắt đầu sản sinh trong tháng này. Cũng chính là nói mồng năm tháng năm tuy là lúc dương khí hưng thịnh, nhưng dưới sự giao thoa của âm và dương, những thứ âm ác cũng từ đó mà sinh sôi, ngũ độc như rết, bọ cạp, tắc kè, nhện, rắn độc đều sẽ xuất hiện, những thứ tà độc nóng ẩm trên đất cũng bắt đầu tràn lan. Đối ứng với thân thể người, thì các chức năng của dạ dày đường ruột trong ổ bụng cũng vì âm khí bộc phát, dương khí trong bụng không đủ mà khí ẩm nặng nề, lúc ấy những thứ tà độc nóng ẩm bên ngoài cũng hết sức dễ dàng xâm phạm đường ruột và dạ dày trong thân thể người, từ đó khiến dịch bệnh hoành hành. Vậy nên mồng năm tháng năm lại bị người xưa xem là “ngày ác”.
Chánh Kiến Việt Ngữ
❤️🩹 Sự oán giận: Vị khách gây hại trong trái tim con người ❤️🩹
[ChanhKien.org]
Có một câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng nọ kể về một cậu bé có tính khí thất thường. Người cha đưa cho cậu bé một túi đinh và bảo cậu bé hãy đóng một chiếc đinh vào hàng rào sau nhà bất cứ khi nào cậu cảm thấy tức giận hoặc bực bội. Cậu bé hăng hái đóng đinh, và chẳng mấy chốc, hàng rào đầy đinh. Cuối cùng, người cha yêu cầu cậu bé nhổ từng chiếc đinh một. Khi cậu bé nhổ chúng ra, cậu thấy những lỗ thủng.
“Những lỗ thủng này giống như những vết sẹo để lại bởi sự oán giận của con”, người cha nói. “Sự tức giận và đau đớn có thể biến mất, nhưng vết sẹo vẫn còn đó”.
Oán giận hằn sâu trong trái tim chúng ta không chỉ về tinh thần mà còn là về thể chất. May thay, chúng ta có cả cách chữa trị và phòng ngừa.
🌿 Cái giá của sự oán giận trong tâm
Trong một nghiên cứu được chủ trì bởi ông Robert Enright, nhà nghiên cứu tiên phong về sự tha thứ và là giáo sư tâm lý giáo dục tại Đại học Wisconsin– Madison, 17 bệnh nhân nam mắc bệnh về tim đã được quan sát để đo lường tác động của sự oán giận và tha thứ lên tim của họ.
Ông Enright yêu cầu họ nhớ lại những bất công trong quá khứ mà họ chưa tha thứ. Khi họ chia sẻ câu chuyện của mình, các thiết bị y tế cho thấy các động mạch dẫn máu đến tim của họ bắt đầu co lại, làm giảm lưu lượng máu. Phản ứng này biểu thị “sự khép kín” xảy ra khi chúng ta ôm giữ mối hận thù.
Ông Enright chia sẻ với The Epoch Times rằng những phát hiện này cho thấy việc giảm bớt sự oán giận có thể bảo vệ tim, có khả năng làm giảm cơn đau ngực và thậm chí là tử vong đột ngột ở bệnh nhân mắc bệnh tim mạch.
Theo một phân tích tổng hợp trên Tạp chí của Học viện Tim mạch Hoa Kỳ, ngay cả những người khỏe mạnh dễ nổi giận và kém thân thiện — đặc trưng rõ ràng của sự oán giận — cũng có nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành cao hơn 19%. Đối với những người có tiền sử bệnh tim, nguy cơ này tăng lên 24%. Một nghiên cứu năm 2024 đã chứng minh điều này, cho thấy sự tức giận kéo dài dẫn đến rối loạn chức năng mạch máu.
Ông Enright hồi tưởng câu chuyện về một người phụ nữ ngoài 80 tuổi mà ông gặp trong viện dưỡng lão. Bà đã mang trong mình nỗi oán giận với một thành viên trong gia đình hơn 40 năm vì một sự bất công chưa được giải quyết.
“Hãy nghĩ về điều đó”, ông Enright chia sẻ. “Điều đó sẽ chẳng có tác dụng gì nhiều đối với người gây ra sự bất công”. Thay vào đó, ông nói, nỗi cay đắng dai dẳng lại làm cạn kiệt hy vọng và làm giảm niềm vui của bà trong những năm cuối đời.
🌿 Hiệu ứng kéo dài
Không giống như cơn giận bùng lên rồi tắt dần, sự oán giận giống như một loại độc dược từ từ.
Khi bị đối xử bất công, theo bản năng chúng ta sẽ dựng lên lá chắn làm từ sự phẫn nộ, tin rằng điều đó bảo vệ chúng ta khỏi bị tổn thương thêm nữa. Trước mắt, điều đó có thể mang lại cảm giác được trao quyền. Ông Enright cho biết, “Giống như chúng ta tự nhủ rằng, ‘Bạn không thể đối xử với tôi theo cách này'”.
Nhưng sự oán giận lưu giữ thật lâu trở thành thứ mà ông gọi là “vị khách gây hại trong trái tim con người”.
Nguồn gốc của từ này—đến từ tiếng Pháp cổ là từ “resentir” có nghĩa là “cảm nhận lại một lần nữa” hay là trải nghiệm lại một cảm giác mãnh liệt — minh họa một trong những đặc điểm nổi bật của oán giận: sự nghĩ đi nghĩ lại.
Những người oán giận có xu hướng nghĩ đi nghĩ lại về điều bất công đó. Nhà triết học Amélie Rorty mô tả sự oán giận là “nuôi dưỡng” chính nó bằng quá khứ, nhai lại những ký ức đau đớn về sự sỉ nhục, bị xúc phạm và tổn thương, phun ra chúng cho đến khi chính sự cay đắng của chúng có được hương vị thơm ngon”.
Sự nghĩ đi nghĩ lại lan khắp cơ thể chúng ta và gây ra tình trạng căng thẳng mãn tính. Căng thẳng này dẫn đến mức cortisol và adrenaline tăng cao làm suy yếu hệ thống miễn dịch, khiến chúng ta dễ mắc bệnh hơn.
Nghĩ đi nghĩ lại cũng có thể dẫn đến trầm cảm, tức giận dữ dội, hành vi hung hăng và xu hướng tự tử.
“Bởi vì sự oán giận là một cảm xúc bị kìm nén, khi phát triển và trở nên trầm trọng hơn, nó trở thành nam châm thu hút những oán giận khác”, bà Kerry Howells viết trong cuốn sách mang tên “Gỡ rối cho quý vị: Làm sao ta có thể biết ơn khi ta cảm thấy quá oán giận? (Untangling You: How Can I Be Grateful When I Feel So Resentful?)”
“Việc thức trắng đêm để suy nghĩ về nỗi oán giận hiện tại thường khiến ta nhớ đến những nỗi oán giận khác không liên quan”.
Tiến sĩ Ann Corson, một bác sĩ y khoa tích hợp kết hợp phương pháp chữa bệnh về thể chất lẫn tinh thần, giải thích rằng những người có sự oán giận sâu sắc thường phải vật lộn với sự không hài lòng trong nhiều khía cạnh của cuộc sống như công việc, các mối quan hệ và thậm chí là chính thân thể của họ – tạo thành một vòng phản hồi tiêu cực ảnh hưởng đến sức khỏe của họ.
Theo thời gian, sự oán giận chuyển thành một thế giới quan. Nó thuyết phục chúng ta coi mọi người như kẻ thù và thế giới về cơ bản là bất công. Đôi khi, sự oán giận của chúng ta không hướng đến một người mà là hoàn cảnh của chúng ta. Chúng ta tự hỏi tại sao mình lại phải chịu những khó khăn nào đó và có thể phát triển một cảm giác bất công sâu sắc về số phận của chúng ta trong cuộc đời.
Ông Enright cho biết nó trở thành một phần con người chúng ta và rất khó để nhận ra, ngay cả với chính bản thân mình.
Nó không chỉ giới hạn ở một cá nhân; sự oán giận có thể trải rộng khắp các gia đình và cộng đồng.
“Sự oán giận có xu hướng được di truyền”, ông Enright nói. “Nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác nếu cha mẹ thể hiện nó và làm gương cho con cái họ”.
🌿 Giải thoát khỏi sự oán giận
Vậy làm sao chúng ta có thể đuổi vị khách gây hại này ra khỏi trái tim mình?
Theo ông Ryan Blackstock, một giáo sư và nhà tâm lý học lâm sàng chuyên về điều trị chứng nghiện, để giải quyết sự oán giận, trước tiên bạn phải hiểu về nó.
“Nó đến từ đâu? Tình hình lúc đó thế nào?” ông nói với The Epoch Times. “Và có lẽ quan trọng nhất là, mục đích của nó hiện tại là gì? Mọi sự oán giận đều có mục đích”.
Ông Enright trình bày một quá trình tha thứ để kiểm soát sự oán giận gồm bốn giai đoạn: giai đoạn khám phá, giai đoạn quyết định, giai đoạn hành động và giai đoạn tháo gỡ.
Trong giai đoạn khám phá, chúng ta hướng đến việc hiểu cảm xúc của mình, nhìn nhận tổn thương và nhận thức được sự oán giận đã ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta như thế nào.
Ông Enright chia sẻ câu chuyện về một người phụ nữ đã chịu đựng tổn thương sâu sắc từ cha mình. Cô nhận ra rằng sự oán giận lâu dài của cô đã ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong cuộc sống của cô — làm căng thẳng các mối quan hệ, làm giảm lòng tự trọng và phủ bóng đen lên tương lai của cô. Bằng cách đối mặt với những cảm xúc này, cô bắt đầu thấy được oán hận đã giam cầm cô như thế nào.
Trong giai đoạn quyết định, cô đã có ý thức chọn tha thứ — không phải để tha thứ cho cha cô về hành động của ông, mà là để giải thoát bản thân khỏi xiềng xích của sự oán hận. Cô nhận ra rằng bấu víu vào sự tức giận chỉ kéo dài thêm nỗi đau khổ của cô.
Ông Enright cho rằng sự tha thứ là “phương thuốc” chữa căn bệnh oán giận. Ngược lại với oán giận, tha thứ có liên quan đến việc giảm tỷ lệ cholesterol — chỉ số dự báo chính của bệnh động mạch vành. Hơn nữa, những người thực hành sự tha thứ có huyết áp thấp hơn và phản ứng tim tốt hơn những người hay bị căng thẳng.
Ngoài quyết định tha thứ, giai đoạn hành động đòi hỏi phải thay đổi góc nhìn của người đó. Người phụ nữ bắt đầu tìm hiểu về quá khứ của cha mình, khám phá ra những khó khăn và tổn thương của ông. Hiểu được những khó khăn của ông không thể bào chữa cho những hành vi của ông nhưng đã làm dịu sự oán giận của cô. Sự cảm thông mới xuất hiện này đã khiến lòng trắc ẩn nảy mầm trong trái tim cô, cho phép cô “bào mòn sự oán giận”, ông Enright cho biết.
Cuối cùng, trong giai đoạn tháo gỡ, cô bắt đầu tìm kiếm ý nghĩa cho sự đau khổ của mình. Với lòng khoan dung, cô đã chọn chăm sóc người cha đang hấp hối của mình, thậm chí còn cho ông ăn trong những ngày cuối đời.
“Sau khi cha cô qua đời, cô chia sẻ, ‘Tôi rất thoải mái vì đã làm điều này, bởi vì, sau cùng, ông ấy là cha tôi; nếu tôi không tha thứ cho ông ấy, tôi sẽ đau buồn và căm ghét trong lòng. Bây giờ chỉ còn đau buồn mà thôi’”, ông Enright nói.
Trong nhiều trường hợp như thế, ông nói rằng “tha thứ có thể giúp quý vị lấy lại cuộc sống”.
Theo Tiến sĩ Corson, khi sự oán giận tiêu tan, tâm trí, thân thể và tinh thần có thể bắt đầu được chữa lành.
...
✨ Xin mời quý độc giả theo dõi tiếp toàn bộ bài viết tại link: chanhkien.org/.../su-oan-gian-vi-khach-gay-hai...
✨ Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
✨ Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
𝐂𝐡𝐚́𝐧𝐡 𝐊𝐢𝐞̂́𝐧 𝐕𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐍𝐠𝐮̛̃
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2026 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc về Chanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK #ChanhKien #ChanhKienNet #ChanhKienOfficial #ChanhKienOrg #ChanhKienVietNgu #VanHoaTruyenThong #VanHoaThanTruyen #VHTT #TuLuyen
1 day ago | [YT] | 65
View 1 reply
Chánh Kiến Việt Ngữ
🌸 Hữu đức tự nhiên hương: Nữ đức - Tương trợ chồng 🌸
[ChanhKien.org]
Phần trước chúng ta đã điểm lại những yêu cầu về việc giáo dưỡng nữ nhi hiền lương thục đức trong các sách cổ. Trong phần này, chúng ta tiếp tục tìm hiểu xem một thục nữ đoan trang sau khi xuất giá nên đối đãi thế nào trong các mối quan hệ với nhà chồng, làm thế nào chăm lo gia đình đúng mực, tương trợ chồng đúng cách.
Trước hết, hãy xem lại chương “Phụng sự chồng” trong sách “Nữ luận ngữ”:
✨ Nữ nhi xuất giá, chồng là người thân. Duyên phận kiếp trước, kiếp này hôn nhân.
✨ Coi chồng như trời, nghĩa này chẳng nhẹ. Chồng cương vợ nhu, ân ái tương thân.
✨ Ở nhà đối đãi, kính trọng như khách. Chồng có nói lời, nghiêng tai lắng nghe.
✨ Chồng làm điều ác, khuyên can ân cần. Chớ học ngu phụ (vợ ngu), rước họa vào thân.
✨ Chồng ra khỏi nhà, phải nhớ lộ trình. Chiều chưa về đến, tìm kiếm ngóng trông.
✨ Giữ lửa hâm cơm, đợi người gõ cửa. Chớ học lãn phụ (vợ lười), trước lo an thân.
✨ Chồng nếu có bệnh, cả ngày lao tâm. Khắp nơi tìm thuốc, khắp chốn cầu Thần.
✨ Tìm trăm cách chữa, mong chồng sống lâu. Chớ học xuẩn phụ, không chút lo sầu.
✨ Chồng nếu nổi giận, không thể oán hờn. Lùi mình nhường bước, nhẫn nhịn nhỏ âm.
✨ Chớ học ngang ngược, tranh đấu ồn ào. Chỉ to áo mỏng, may vá khéo căn.
✨ Chớ để giá lạnh, tổn hại thân chồng. Thường sẵn cơm nước, đối đãi ân cần.
✨ Chớ để đói khát, ốm yếu khô gầy. Đồng cam cộng khổ, đồng phú đồng bần.
✨ Chết chôn cùng huyệt, sống đắp cùng chăn. Giống như đôi cá, hòa nhạc sắt cầm (đàn sắt đàn cầm).
✨ Nữ nhân như vậy, hiền đức vang danh.
🌿 Sau khi chép lại toàn bộ đoạn văn trên, lòng tôi tràn ngập cảm xúc! Trong gia đình có một người vợ tốt như vậy thì gia đình sao có thể không hòa thuận!
Người phụ nữ trong cuộc hôn nhân viên mãn đó đã được mô tả sống động trên trang giấy. Người phụ nữ thiện lương, dịu dàng, lại có thêm đức tính nhẫn nhịn, ti nhược như vậy thì vị “phu quân như trời” nào mà không cảm động, không yêu thương bảo vệ đây!
🌿 Thời xưa, mối quan hệ vợ chồng là khởi đầu của luân lý làm người, đạo nghĩa vợ chồng tuân theo đạo lý quy luật vận hành âm dương của trời đất, nam dương nữ âm, mỗi người mỗi khác, tính cách, trách nhiệm, phân công công việc cũng hoàn toàn khác nhau. Tục ngữ có câu: “Sinh con trai mạnh mẽ như sói, chỉ ngại nó nhút nhát nhu nhược. Sinh con gái gan nhỏ như chuột, chỉ ngại nó hung dữ như hổ”. Muốn có được mối quan hệ vợ chồng hài hòa tốt đẹp, người vợ phải như đại địa có đức hạnh sâu dày chứa đựng, nâng đỡ vạn vật. Làm sao để có đức dày thì trong sách cổ đã đặc biệt nhấn mạnh hai từ “kính thuận”. Học được chữ “kính” thì mới giữ tròn được bổn phận người phụ nữ, giữ gìn được quy củ. Khi có thể đặt mình ở vị trí thấp nhất, xem mọi người xung quanh đều cao hơn mình, đều cần phải tôn trọng, thì cái tâm cung kính, ti nhược này sẽ tự nhiên xuất hiện. Lại còn có thể “thuận”, gặp phải người hay việc ngang ngược thế nào cũng đều có thể buông bỏ cái tôi xuống, thuận với ý muốn của người khác, vậy sẽ tránh được những tai họa có thể xảy ra.
Trong mối quan hệ vợ chồng, đức tính “thuận” này của người vợ là một sự cung kính lâu bền, trong đó bao gồm biết dừng và biết đủ. Biết dừng lại đúng lúc thì dễ biết đủ, đối với chồng cũng nên hạn chế trách móc mà thêm phần tôn trọng, cung kính.
Vợ chồng là mối quan hệ thân cận, mật thiết nhất trong các mối quan hệ nhân luân, suốt đời sớm tối bên nhau, tuy nhiên lâu ngày lại dễ sinh tâm khinh mạn. Nếu người vợ buông lời suồng sã vô ý, trong tâm tùy ý phóng túng thì sẽ dễ nảy sinh ý nghĩ xúc phạm chồng.
🌿 Sách Nữ hiến viết: “Người chồng là chỗ dựa cả đời của người phụ nữ, chỉ cần đạt được tâm nguyện của chồng thì cả đời an tâm rồi”.
Tuy nhiên, người vợ muốn được chồng tôn trọng và tin tưởng từ tận đáy lòng, thì cần phải chuyên tâm nghiêm túc tu dưỡng nữ đức. Vui vẻ rộng lượng đối đãi với chồng, nhất cử nhất động đều thủ lễ giữ nghĩa, nội tâm thanh tịnh, nhà cửa ngăn nắp sạch sẽ, tai không nghe lời thị phi, mắt không nhìn cảnh bất chính. Dù ra ngoài hay ở nhà một mình đều diện y phục sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng. Lúc nào cũng nhắc nhở bản thân nghiêm túc tu tâm. Nếu làm được như vậy thì tự nhiên cương nhu hòa hợp, âm dương cân bằng, gia đình hưng thịnh.
🌸 Xin mời quý độc giả theo dõi tiếp toàn bộ bài viết tại link: chanhkien.org/.../huu-duc-tu-nhien-huong-nu-duc...
🌸 Link radio Gangjingworld: www.ganjingworld.com/s/ZYaEwOm3GO
🌸 Link radio Youtube:https://www.youtube.com/watch?v=FCxhC...
🌸 Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
🌸 Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
𝐂𝐡𝐚́𝐧𝐡 𝐊𝐢𝐞̂́𝐧 𝐕𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐍𝐠𝐮̛̃
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2026 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc về Chanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK #ChanhKien #ChanhKienNet #ChanhKienOfficial #ChanhKienOrg #ChanhKienVietNgu #VanHoaTruyenThong #VanHoaThanTruyen #VHTT #TuLuyen
1 week ago | [YT] | 82
View 4 replies
Chánh Kiến Việt Ngữ
Tác giả: Mai Tùng Hạc
[ChanhKien.org]
Vương Duy (700 – 761), tự là Ma Cật, là một đại thi nhân, họa sĩ và nhạc gia thời Thịnh Đường. Thơ ông miêu tả sự vật tinh tế, sinh động, đầy thần thái; ngôn từ thanh nhã, thoát tục, thể hiện trình độ nghệ thuật cao siêu, phong cách thơ của ông độc đáo, tự thành một trường phái riêng. Ông giỏi nhiều thể loại thơ, thành thạo trong việc sáng tác nhiều đề tài. Vương Duy cùng với Lý Hân, Cao Thích, Sầm Tham và Vương Xương Linh hợp lại với nhau được gọi là “Vương Lý Cao Tằng”, đại diện cho dòng thơ “biên tái” (thơ viết về vùng biên ải); ông cùng Mạnh Hạo Nhiên hợp lại được gọi là “Vương Mạnh”, đại diện cho dòng thơ điền viên (thơ về cuộc sống thôn quê). Những kiệt tác thơ biên tái của ông đa số là thất ngôn cổ thi, còn trong các bài thơ điền viên nổi bật đa phần là các bài ngũ ngôn luật thi. Về “thiền thi” (thơ mang tư tưởng thiền), ông lại càng xuất chúng, từ xưa đến nay không ai theo kịp, nên được tôn xưng là “Thi Phật”. Nhiều tuyệt phẩm lưu truyền rộng rãi của ông thuộc thể ngũ tuyệt: chỉ vỏn vẹn 20 chữ nhưng đã thể hiện trọn vẹn tâm tư, cảm xúc và triết lý mà trăm ngàn năm sau người ta vẫn đàm luận mãi không hết. Những bài thơ nổi tiếng của ông bao gồm: “Lộc Trai”, “Trúc Lý Quán”, “Sơn Trung”, “Tương Tư” và “Tạp Thi (kỳ 2)”… Vương Duy cũng là bậc thầy hội họa, ông giỏi vẽ các thể loại tranh phá mặc sơn thủy (tranh phong cảnh vẽ bằng lối phá mực) và tùng thạch (tranh vẽ tùng trên đá), ông cũng giỏi vẽ nhân vật, chân dung, và khóm trúc. Bút lực của ông hùng tráng, ông là người đi đầu trong việc sử dụng kỹ thuật thuân pháp (vẽ bằng các đường ngắn gãy) và tuyển vựng (tô màu loang) để tạo chiều sâu bố cục, đặc biệt là với cảnh bình viễn (cảnh xa bằng phẳng). Ông được hậu thế suy tôn là tổ sư của “Nam Tông” và người đứng đầu trong số các văn nhân vẽ tranh. Tác phẩm hội họa “Võng Xuyên Đồ”, vẽ những dãy núi trập trùng, cây cối um tùm, mây trôi nước chảy. Tô Thức thời Bắc Tống từng khen ông rằng: “Trong thơ có họa, trong họa có thơ”.
Vương Duy mồ côi cha từ sớm, mẹ ông là một cư sĩ Phật giáo rất thành kính, điều này có ảnh hưởng lớn đến việc sau này ông ăn chay và tu Phật cả đời. Những thăng trầm trong cuộc sống của ông lại càng góp phần khiến ông nhìn cuộc đời nhẹ nhàng và kiên định với lòng tin vào Phật: năm 21 tuổi, ông đỗ tiến sĩ và được bổ nhiệm làm Đại Nhạc Thừa. Nhưng vì một nhóm đào hát biểu diễn điệu múa sư tử vàng phạm tội mà bị liên lụy, ông bị giáng chức làm Tư Thương Tham Quân ở Tế Châu. Đến thời loạn An Sử, ông bị An Lộc Sơn bắt giam và buộc phải nhận chức quan của quân phản loạn. Sau khi loạn lạc được dẹp yên, ông lại vì chuyện này mà bị bỏ tù. Một năm sau, Túc Tông xét thấy ông vô tội nên tha bổng, sau đó trong vài năm, ông liên tiếp được thăng chức đến chức Thượng Thư Hữu Thừa – một chức quan lớn. Có điều lúc này ông đã vào tuổi xế chiều, từ lâu đã xem nhẹ hồng trần rồi.
Trong suốt cuộc đời, ông đã có nhiều thời gian sống ẩn cử. Trước năm 18 tuổi, ông đã từng ẩn cư. Năm 729, ông ẩn cư tại vùng Kỳ Thượng, sau đó chuyển đến núi Tung Sơn, lần này là do từ quan về ở ẩn, cho đến năm 734 mới được triều đình bổ nhiệm làm Hữu Thập Di. Từ năm 741 đến 745, ông lại ẩn cư ở núi Chung Nam. Đến năm 748, ông mua lại biệt viện Võng Xuyên ở Lam Điền của Tống Chi Vấn, từ đó sống cuộc đời nửa làm quan nửa ẩn sĩ, cho đến năm 756 thì bị An Lộc Sơn bắt giữ. [1] Căn cứ vào thơ của ông thì thấy, vào khoảng 40 tuổi, ông đã có tâm tu Đạo. [2] Về cuối đời, ông chủ yếu sống trong thành, trong nhà thường nuôi dưỡng mười mấy vị tăng nhân để cùng nhau giao lưu thể ngộ tu Phật; sau mỗi buổi chầu về, ông lại đốt hương ngồi thiền một mình, chuyên tâm tu tập thiền định.
Trong lúc ẩn cư, ông thường leo núi, bái chùa, cầu Đạo vấn thiền, lòng đầy khát vọng ẩn cư nơi núi rừng thanh tĩnh. Có lúc ông men theo những con đường nhỏ hiểm trở, quanh co uốn lượn mà leo lên đỉnh núi, những ngọn núi kỳ lạ chỉ thẳng lên trời, trên đầu là những tảng đá lớn lởm chởm như muốn rơi xuống bất cứ lúc nào; thác nước và suối reo vang như sấm, tung bọt trắng xóa; cùng các thiền sư trong núi đi đường, có khi bắt gặp bầy khỉ đang nhặt hạt dẻ, lúc trở về lại tình cờ gặp đàn hạc tiên đang làm tổ trong rừng tùng; cây cầu nhỏ đi qua chỉ là thân cây đổ được gác tạm qua suối, hàng rào nơi ở chỉ là những sợi dây leo trên cây lớn buộc tạm lại thành. Khi về tới nơi, khép cửa đá lại, ông an tâm đả tọa, đến khi mở cửa đá một lần nữa thì cỏ ngoài sân đã mọc cao rậm rạp rồi! [3] Có lúc ông leo lên một ngọn núi thật cao, sau rừng trúc sâu là một hang đá dùng làm nơi cư trú, đêm đến khi mọi vật tĩnh lặng, ông nghe được tiếng suối chảy róc rách từ xa vọng lại; từ dưới nhìn lên, chỗ ấy đã là nơi cao vút giữa mây trời, vậy mà ông lại đang nằm nghỉ yên bình ở đây, cảm giác ấy khiến ông thấy lưu trú tạm thời thật chẳng đủ, mà chỉ muốn được ở lại đây mãi mãi. [4] Có lần ông du ngoạn đến một số ngôi chùa trên núi, nơi đó mãnh hổ sống hòa thuận với người, những con khỉ còn có thể học theo người tham thiền đả tọa, khoảnh khắc ấy khiến người ta cảm nhận được Phật quốc hiện ra ngay trước mắt, còn thế gian con người thì trở nên xa xăm mờ ảo, cũng khiến ông tự thấy hổ thẹn với đời sống quan trường mà mong mỏi được sống suốt đời ở nơi đây để tu Phật. [5]
Ngoài những lý do đã kể trên khiến Vương Duy hướng về cửa thiền, thì nỗi khổ và sự giày vò của sinh lão bệnh tử trong đời người cũng là một loại lực lượng thúc đẩy và khai mở tâm linh: có lúc ông ngồi lặng lẽ suy ngẫm giữa đêm khuya, nghĩ đến tóc mai hai bên ngày một bạc trắng, chẳng thể nào đen trở lại, dù có vạn lượng vàng cũng đành bất lực, không khỏi cảm thấy nỗi bi thương dâng trào, và cuối cùng ngộ ra rằng chỉ có học Đạo, thoát khỏi luân hồi mới có hy vọng. [6] Lại có lúc ông hồi tưởng, cảm giác bản thân mới hôm qua còn là chàng thanh niên mặt mày hồng hào rạng rỡ, vậy mà hiện nay răng đã hỏng, sắc diện tàn phai, tóc bạc đã sớm phủ kín đầu; không chỉ vậy, bao nhiêu chuyện thương tâm trong đời cũng cùng lúc trỗi dậy trong tâm. Trước sự giày vò cả thân lẫn tâm như vậy, ngoài việc chăm chỉ tu hành nơi cửa Phật, còn biết đi đâu để giải thoát đây! [7]
Khi đã có đạo tâm kiên định và tu vi chuyên cần, quay đầu nhìn lại cõi đời sẽ có một thế giới quan hoàn toàn khác: bệnh tật trong đời chẳng qua cũng từ chấp trước vào yêu và hận mà sinh; cảm thấy mình nghèo khổ rồi sinh lòng oán trách, chẳng qua cũng bởi có tâm tham dục; con người trong mê lại thành ra lưu luyến cõi trần gian đầy bệnh tật và nghèo khổ này, đối với sinh tử qua lại, lục đạo luân hồi lại không biết chán, lại không hề hay biết rằng sở dĩ con người đến thế gian này chính là vì đã khởi phàm tâm. [8] Những vọng tưởng điên đảo này của con người giống như những con rồng độc quấn chặt bản thân, không thể tự giải thoát, chỉ có tu tập thiền định mới có thể chế ngự những vọng niệm này. [9] Người tu Đạo sau khi nhìn thấu những lý này rồi tự nhiên sẽ an vui với cuộc sống tu Đạo nghèo khó. [10] Hơn nữa, thuận theo việc tâm tính đề cao, cái nhìn về khổ và vui cũng khác với người thường, thường cảm thấy vui mừng khi có sự giác ngộ trong tĩnh lặng, và từ đó dần dần tạo nên khoảng cách với người thường. [11]
Trong thơ của mình, Vương Duy còn nhắc đến một số sự tình cụ thể trong tu luyện: ông thích đọc những truyện ký về các cao tăng đắc Đạo, đôi khi nghiên cứu cả phương pháp tu luyện tịch cốc; ông khắc đầu gậy thành hình chim cu gáy, lấy mai rùa làm vật kê dưới chân giường; khi không có việc gì làm thì đốt hương dưới cửa sổ phía Bắc và ngồi đả tọa. [12] Khi ẩn cư trong núi, ông cùng một nhóm người tụng thiền, cảm nhận được niềm vui khác biệt so với khi ngồi thiền một mình. [13] Trong thời gian ẩn tu tại núi Tung Sơn, ông còn từng có trải nghiệm bế quan tu luyện. [14]
Làm điều ác giống như mài dao trên đá, tuy nhìn không thấy hao tổn rõ rệt, nhưng mỗi ngày tiêu giảm một chút, dần dần bị mòn đi; tu thiện thì như cỏ xuân trong vườn, tuy chẳng thấy nó lớn lên, nhưng mỗi ngày một cao. Không ai hay biết, thuận theo năm tháng trôi qua, Vương Duy đã tu luyện đến cảnh giới cực cao “mắt nhìn mà không nhiễm, lòng rỗng mà không mê”. [15] Khi tu được đến trình độ cao, tự nhiên sẽ xuất hiện một số công năng, nhưng bản thân ông lại không xem trọng điều đó. Đối với thành tựu rất cao của mình trong thơ ca và hội họa, ông chỉ khiêm nhường giải thích rằng: “Ta từ nhiều đời đã là người tinh thông thơ văn, mà đời trước là một họa sĩ. Vì những thói quen xưa kia chưa dứt hết, nên đời này lại bị người đời phát hiện ra thôi”. [16] Tu luyện mười mấy hai mươi năm mà có được công năng như túc mệnh thông cũng chẳng có gì lạ; lời giải thích của ông không chỉ hợp tình hợp lý mà còn rất phù hợp với các quy luật nghiên cứu về luân hồi trong giới học thuật phương Tây hiện đại...
Dịch từ: www.zhengjian.org/node/19842
Link bài viết: chanhkien.org/2025/06/cau-chuyen-tu-luyen-cua-cac-…
Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
Chánh Kiến Việt Ngữ
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2025 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc vềChanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK#ChanhKien#ChanhKienNet#ChanhKienOfficial#ChanhKienOrg#ChanhKienVietNgu#VanHoaTruyenThong#VanHoaThanTruyen#VHTT#TuLuyen
2 weeks ago | [YT] | 50
View 0 replies
Chánh Kiến Việt Ngữ
Tác giả: Tiểu Liên
[ChanhKien.org] Câu chuyện này xảy ra ở vùng Triết Giang vào thời nhà Nguyên. Nơi đây từng có lần xảy ra một trận lũ lụt lớn, nước lũ tuy không quá lớn nhưng cũng đã nhấn chìm rất nhiều đồng ruộng và làng mạc. Cũng may trận lụt xảy ra vào ban ngày, rất nhiều người biết được thông tin nên phần lớn người dân đều đã di tản một cách an toàn.
Chỉ còn sót lại một gia đình có hai mẹ con. Người mẹ bị đau chân, cô con gái mới 15-16 tuổi. Nhà cô nằm ở vùng trũng, nên lũ lụt trong nháy mắt đã vào đến cửa. Mẹ cô nài nỉ: “Con mau chạy đi, đừng lo cho mẹ!” Cô con gái nhất định không chịu, muốn cõng mẹ ra ngoài, nhưng thân con gái như cô sao có thể cõng nổi mẹ già? Thuận theo nước lũ không ngừng dâng cao, ngôi nhà cũng bắt đầu nghiêng sang một bên. Mẹ cô dốc hết sức lực đẩy cô con gái ra ngoài lên chỗ cao hơn một chút, trong nháy mắt căn nhà đổ sụp xuống, người mẹ đã vùi thân trong dòng nước lũ. Cô gái thấy vậy liền ngất đi.
Rất lâu sau cô tỉnh lại, phát hiện mình đang nằm trên một con thuyền nhỏ. Vợ của thuyền phu vừa thấy cô tỉnh lại liền bưng nước nóng đến cho cô, giúp cô sưởi ấm người. Khi cô nhớ lại được mọi chuyện, trước tiên cô cảm tạ ơn cứu mạng của vợ chồng thuyền phu. Sau đó, cô bắt đầu òa khóc. Bởi cô từ nhỏ đã nương tựa vào mẹ mà sống, sự ra đi của mẹ là một cú sốc lớn đối với cô. Người thuyền phu an ủi: “Con à, trong trận lũ này, không chỉ có mình mẹ con bị nước lũ cuốn đi mà còn có nhiều người khác cũng cùng cảnh ngộ như vậy, đúng là thiên tai mà!” Cô gái đau xót nghĩ: “Ông Trời chẳng phải có đức hiếu sinh sao, cớ sao lại không ngăn cản thiên tai này? Cớ sao lại bắt người ta nếm trải nỗi thống khổ của sinh ly tử biệt chứ?” Mấy hôm sau lại xảy ra lũ lụt, vì họ ở trên thuyền nên cũng không việc gì. Thuyền phu là người rất trượng nghĩa, ông dẫn theo vợ và cô gái nhỏ chèo thuyền khắp nơi để cứu người. Mấy lần họ suýt bị những người rơi xuống nước kéo xuống. Trong lần cứu người cuối cùng, hai vợ chồng thuyền phu đều bị nước lũ cướp đi sinh mệnh. Trên thuyền chỉ còn lại một mình cô gái. Cô không đủ sức để kéo cái mái chèo nặng nề, chèo được một lát thì mệt rã rời. Cô đành tuyệt vọng nằm trong lòng thuyền, mặc cho chiếc thuyền cứ xuôi dòng mà lênh đênh.
Trải qua năm ngày năm đêm, chiếc thuyền dường như đã tấp được vào bờ, nó mắc kẹt ở nơi đó. Cô gái chỉ còn thở thoi thóp. Lúc đó vừa đúng giờ ngọ, từ trên bờ vang đến âm thanh của một bà cụ gõ cái bình bát. Bà vừa gõ bình bát vừa lẩm nhẩm rằng: “Ta vốn ngoài biển từ trời đến, lưu lạc bờ biển một vùng này, cầm bát hóa duyên thật tự tại, như ngọc như hoa đến khi nào? Như ngọc như hoa đến khi nào?” Cô gái nhỏ nghe xong, không biết sức lực từ đâu đến mà hô lên rằng: “Hoa sen như ngọc là thứ cháu thích nhất!” Bà cụ nghe thấy mừng rỡ chạy một mạch đến bên chiếc thuyền, thấy cô gái chỉ còn hơi thở thoi thóp. Bà ôm cô vào lòng, thật hiền từ giống như bà nội với cháu gái vậy.
Về sau cô cùng bà cụ đi xin ăn. Mười năm sau, vào một đêm mưa to gió lớn, họ nghỉ ngơi trong một ngôi miếu hoang, bà cụ hỏi cô: “Tại sao con lại thích hoa sen và thích ngọc vậy?” Cô cười nói rằng: “Con cảm thấy làm người thì nên cao quý như là hoa sen và thuần tịnh, cứng cỏi như ngọc vậy.”
Bà cụ nghe xong vui mừng nói: “Trên thế gian này, những người có thể đồng thời thích hai thứ này thật sự không nhiều! Con xem nơi này ngay cạnh biển cả, người ta thường xuyên đi biển, nhưng cũng thường có người chôn thân nơi đáy biển, ta thật sự không nhẫn tâm. Vậy nên ta thường đi xin ăn trên bờ biển, phàm là những người cho ta cơm ăn, chỉ cần họ không làm những chuyện giết người hại mệnh, trộm cướp, ta sẽ gắng hết sức giúp họ vượt qua kiếp nạn trong sóng gió.”
Cô gái nghe xong cảm thấy lời của bà cụ có ẩn ý sâu xa, liền hỏi: “Lão nhân gia, lẽ nào người chính là Bồ tát Quan Thế Âm cứu khổ cứu nạn chuyển thế hay sao?” Bà cụ từ bi nói: “Ta là ai vốn không quan trọng, quan trọng là con hãy hiểu rõ một điều: nhất định phải cứu độ chúng sinh thoát khỏi nguy nan. Nhưng có một điều kiện tiên quyết: nếu như con người đều không tin vào Thần nữa, vậy thì cứu họ chính là làm trái với lẽ Trời.” Cô gái nghe xong lập tức hiểu rõ. Cô quỳ xuống dập đầu, mong lão nhân gia có thể đem năng lực cứu khổ cứu nạn truyền cho cô, tương lai cô cũng muốn ở nơi này cứu độ chúng sinh khỏi nguy nan! Lão nhân gia thấy cô một lòng thành tâm liền thu cô làm đệ tử. Sau đó bà nói với cô rằng: “Thật ra khi con ở quê nhà vùng Triết Giang, ta đã dõi theo con rồi, bởi căn cơ của con rất tốt, là người hiếu thuận, trượng nghĩa. Lúc đó, con tuy còn nhỏ tuổi, nhưng luôn hết lòng hết sức giúp đỡ người khác. Mẹ của con tuy chôn thân trong nước lũ, nhưng nhờ con tu hành, mẹ của con cũng sẽ có đại phúc báo chờ đợi bà. Vợ chồng thuyền phu cũng vậy. Thật ra, cớ sao cuộc đời con lại phải trải qua những khổ nạn này, chính là để con nhìn thấu những hư huyễn và vô thường của đời người, đề con không có lòng tham luyến cõi trần. Suốt 10 năm nay, chúng ta cùng nhau đi xin ăn, gặp đủ các dạng các loại người, vô luận người khác đối xử với chúng ta thế nào, ta đều không xem trọng, phàm là những người cho ta cơm ăn, ta đều sẽ tận lực giải thoát cho họ trong nguy nan. Còn những người đối xử rất ác với chúng ta, ta cũng cấp thêm cơ hội cho họ. Những người nào thật sự tâm ma nhiễu loạn thì chẳng còn cách nào, đành phó mặc họ thôi.” Nghe xong những lời khải thị này, cô càng thêm kiên định tín tâm theo sư phụ tu hành.
Thấm thoắt lại 20 năm nữa trôi qua. Cô thiếu nữ năm xưa giờ đã là một phụ nữ trung niên khoảng hơn 50 tuổi. Một ngày kia, bà cụ nói với cô rằng: “Ta có việc cần phải đi rồi, những việc còn lại, tự con hãy tùy tình huống mà làm. Phải rồi, ta chọn con làm đồ đệ duy nhất của ta chính là hy vọng con có thể làm tốt những việc vốn thuộc về ta.” “Sư phụ, những việc của người là gì vậy?” Cô hiếu kỳ hỏi. Bà cụ bảo cô xoay người đi, đến khi cô quay đầu nhìn lại thì bỗng ngẩn người ra: không thấy bà cụ vốn bị mù hai mắt đâu nữa, chỉ thấy một vị Bồ tát uy nghiêm vô tỷ đang đứng trước mặt cô. Vẻ từ bi, thù thắng đó dẫu dùng bất cứ ngôn ngữ nào của nhân gian cũng không có cách nào diễn tả được. Cô cúi xuống bái lạy. Bồ tát chỉ tay một cái, thấy biển cả mênh mông bỗng nổi trận cuồng phong tứ bề, vô số con thuyền nhỏ đáng thương đang lênh đênh ở đó, Bồ tát chìa bàn tay ngọc còn lại thu rất nhiều thuyền nhỏ vào trong tay, có một số thuyền nhỏ thì lật chìm xuống đại dương mênh mông. Nhìn kỹ những con thuyền nhỏ được Bồ tát giữ trong bàn tay ngọc kia, trên mạn thuyền đều có một chữ “phúc” hoặc “đức”. Còn trên mạn những con thuyền bị lật chìm xuống đại dương bao la kia hầu hết đều có một vết đen hoặc vòng tròn màu đen rất lớn.
Sau khi triển hiện cho cô thấy những cảnh này, thân thể Bồ tát bắt đầu phiêu đãng bay lên. Cô quỳ xuống đất nghênh tiễn sư phụ. Khi thân thể Bồ tát bay đến giữa không trung, Bồ tát nói:
Thương xót chúng sinh đến thế gian
Thiện ác một niệm thấu trời xanh
Con cầm bát ta kết duyên tiếp
Từ bi cam lộ độ nguy nan!
Cô nghe những lời khai thị này, trong lòng đã hiểu rõ hơn một nửa, trong những năm tháng về sau, dấu chân của cô đã đi khắp các vùng ven biển, không ngừng dùng phương thức hóa duyên để kết duyên với chúng sinh, giáo hóa chúng sinh. Trong thời gian đó cô cũng không ngừng thăng hoa tâm tính của bản thân, cuối cùng khi ở tuổi 99, cô đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình mà viên mãn về Trời.
Ở thiên giới, cô gặp lại mẹ ruột của cô và hai vợ chồng thuyền phu. Để cảm tạ ơn cứu mạng nơi cõi người của mẹ cô và vợ chồng thuyền phu, cô đã phong cho họ làm Thiên Thần hộ Pháp.
Đây chính là:
Như hoa như ngọc sinh cao quý
Trần thế vô thường chẳng dài lâu
Cứu thế tu hành khổ ma luyện
Ngày kia viên mãn, tráng lệ thay!
Dịch từ: www.zhengjian.org/2012/08/13/112417.掸去封尘:似玉如花.html
Link bài viết: chanhkien.org/2015/09/phui-sach-phong-tran-nhu-hoa…
Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
Chánh Kiến Việt Ngữ
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2025 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc vềChanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK#ChanhKien#ChanhKienNet#ChanhKienOfficial#ChanhKienOrg#ChanhKienVietNgu#VanHoaTruyenThong#VanHoaThanTruyen#VHTT#TuLuyen
3 weeks ago | [YT] | 131
View 3 replies
Chánh Kiến Việt Ngữ
Đằng sau bức “Lan Đình tập tự”
Tác giả: Thanh Phong
[ChanhKien.org]
Bản sao các bài thơ của “Lan Đình tập tự”. (Ảnh: Shenyun.com)
Năm 353 (năm Vĩnh Hòa thứ 9 triều vua Tấn Mục Đế), vào ngày mùng 03 tháng 03 âm lịch Vương Hi Chi cùng các nhân sĩ nổi tiếng như Tạ An, Tôn Xước… tổng cộng có 41 người cùng tổ chức hội thơ ở Lan Đình tại núi Hội Kê thuộc huyện Sơn Âm (nay thuộc Triệu Hưng, Chiết Giang). Những người dự hội đã sáng tác thơ phú nói lên hoài bão của mình và chép thành một tập, sau đó mọi người đề nghị người mở hội – nhân sĩ Vương Hi Chi đức cao vọng trọng viết lời mở đầu ghi lại buổi nhã hội này, chính là bức “Lan Đình tập tự”.
Bức “Lan Đình tập tự” có một vị trí cực cao trong lịch sử văn học, và trong lĩnh vực thư pháp nó cũng đạt đến vị trí đỉnh cao mà chưa tác phẩm nào có thể vượt qua.
Chúng ta đều biết rằng Vương Hi Chi là một nhà thư pháp vĩ đại, kỳ thực ông còn là một đạo sỹ. Trong quyển “Tấn Thư” Vương Hi Chi viết rằng: “Thế sự Trương thị Ngũ đấu mễ đạo, hựu tinh thông thư đạo”, nghĩa là chuyện thế sự của người họ Trương là đạo năm đấu gạo, lại tinh thông thư pháp. Nhiều thế hệ trong đại gia tộc Vương Hi Chi đều là những tín đồ Đạo giáo thành tín, vị tổ mà họ tín phụng chính là ông tổ Trương Đạo Lăng của phái Thiên Sư Đạo. Trong bộ sách “Tiềm phu luận” của Vương Phù đời Hán có đoạn ghi chép: “Nhân thị Vương thị, kỳ hậu tử tôn, thế hỉ dưỡng tính, thần tiên chi thuật” (Thế là từ đó con cháu họ Vương đều thích tu tâm dưỡng tính, học phép thuật của Thần tiên). Vương Hi Chi thường “cùng đạo sỹ Hứa Mại tu luyện, uống đan dược, vượt ngàn dặm hái thuốc, đi khắp các quận phía Đông, vượt khắp danh sơn, băng qua biển thẳm”. Lối thư pháp của ông vì thế mà cũng bị ảnh hưởng bởi văn hóa Đạo giáo. Những khi nhàn rỗi Vương Hi Chi hay sao chép kinh sách Đạo giáo, trong đó nổi tiếng nhất là bản chép tay “Hoàng Đình Kinh”, do vậy giải thích từ góc độ tu luyện thì tuyệt phẩm “Lan Đình tập tự” cũng là tự nhiên thuận bút thành văn, nếu từ tầng của người thường thì thực sự không thể giải thích được.
Sau đây chúng ta hãy cùng phân tích nội dung bức “Lan Đình tập tự”:
Vĩnh Hòa cửu niên, tuế tại Quý Sửu, mộ xuân chi sơ, hội vu Cối Kê Sơn Âm chi Lan Đình, Tu Hễ sự dã. Quần hiền tất chí, thiếu trưởng hàm tập. Thử địa hữu sùng sơn tuấn lĩnh, mậu lâm tu trúc; hựu hữu thanh lưu kích thoan, ánh đới tả hữu. Dẫn dĩ vi lưu trường khúc thuỷ, liệt tọa kỳ thứ; tuy vô ty trúc quản huyền chi thịnh, nhất trường nhất vịnh, diệc túc dĩ sướng tự u tình. Thị nhật dã, thiên lãng khí thanh, huệ phong hòa sướng; ngưỡng quan vũ trụ chi đại, phủ sát phẩm loại chi thịnh; sở dĩ du mục sính hoài, túc dĩ cực thị thính chi ngu, tín khả lạc dã.
Tạm dịch: Năm Kỷ Sửu, Vĩnh Hòa thứ chín, sắp vào tiết xuân; cùng họp nhau nơi Lan Đình, phía Bắc núi Cối Kê, chuẩn bị lễ Tu Hễ [1]. Những hiền sĩ, già có trẻ có, đều đến tụ họp. Nơi ấy có núi cao chót vót, rừng xanh rậm rạp, trúc dài tươi tốt, thêm suối trong cuộn chảy, lấp loáng bóng đôi bờ. Theo dòng nước uốn lượn có thể thả chén rượu đặt lời thơ, chia thứ bậc cùng ngồi. Tuy không có tiếng đàn sáo rộn rã nhưng một chén rượu, một lời ngâm cũng đủ để giãi bày tâm tình sâu kín. Hôm ấy trời cao khí trong, gió nhẹ lâng lâng, ngẩng nhìn vũ trụ mênh mông, cúi xem vạn vật phồn vinh, phóng tầm mắt, mở cõi lòng, đủ để tận hưởng hết cái hứng thú của tai mắt, thực là vui vậy.
Ở hai đoạn đầu này lời văn được viết trong sáng, dễ hiểu. Rõ ràng là Lan Đình và khung cảnh xung quanh trông rất đẹp, đến một kẻ phàm phu cũng phải thấy lâng lâng tức cảnh sinh tình. Khi luận giải “Lan Đình tập tự” người ta cũng chỉ có thể hiểu đến thế mà thôi. Tuy nhiên có một điểm mà người bình thường không nhận thức ra được: Vương Hi Chi và các danh sĩ đều là những người tu Đạo, buổi họp mặt này kỳ thực chính là buổi giao lưu chia sẻ tu luyện; hơn nữa họ đều có căn cơ rất tốt, trong đó không ít người có thiên mục khai mở đến một tầng nhất định, có thể nhìn thấy, tiếp xúc được với nhiều thứ mà người thường trong cùng một hoàn cảnh không thể nhìn thấy, chạm đến được hay tiếp thụ được. Thế nên họ mới đạt tới cảnh giới “ngẩng nhìn vũ trụ mênh mông, cúi xem vạn vật phồn vinh, phóng tầm mắt, mở cõi lòng, đủ để tận hưởng hết cái hứng thú của tai mắt, thực là vui vậy”.
Đoạn sau: Phù nhân chi tương dữ, phủ ngưỡng nhất thế, hoặc thủ chư hoài bão, ngộ ngôn nhất thất chi nội; hoặc nhân ký sở thác, phóng lãng hình hài chi ngoại. Tuy thú xá vạn thù, tĩnh táo bất đồng; đương kỳ hân vu sở ngộ, tạm đắc vu kỷ, khoái nhiên tự túc, bất tri lão chi tương chí. Cập kỳ sở chi ký quyện, tình tuỳ sự thiên, cảm khái hệ chi hĩ. Hướng chi sở hân, phủ ngưỡng chi gian, dĩ vi trần tích, do bất năng bất dĩ chi hứng hoài; huống tu đoản tùy hoá, chung kỳ ư tận. Cổ nhân vân: “Tử sinh diệc đại hĩ.” Khởi bất thống tai!
Tạm dịch: Phàm người cùng người tương hội chỉ là trong thoáng chốc của cuộc đời; có người khi giao tiếp là giữ kín hoài bão trong lòng không nói, có người vì sự ký thác mà gửi hết tâm tư vào hình hài. Tuy muôn vàn sở thích khác nhau, tĩnh động cũng khác, nhưng sự vui vẻ khi gặp nhau, dẫu trong chốc lát, (lại) chẳng biết tuổi già đang đến.
Rồi khi tự thân mòn mỏi, tâm tình theo sự vật đổi thay, lòng đầy cảm khái. Niềm vui trong khoảnh khắc giờ đây bỗng biến thành vết bụi mờ, vậy nên lòng không thể không hoài cảm. Huống chi cuộc đời dài ngắn (thường) biến hóa, rồi cũng đến lúc tận chung. Người xưa nói: “Tử sinh đều là việc lớn”, há chẳng đau lòng sao! (Có bản viết: từng chưa hay tuổi già đang đến, có bản viết: không hay tuổi già đang đến)
Nếu xét từ góc độ tu luyện thì đoạn văn trên rất dễ lý giải, nói thẳng ra những thứ như danh lợi tình mà con người chấp trước đều không bền lâu, không thể tồn tại vĩnh viễn, một khi mất đi sẽ khiến người ta phải thở dài cảm thán.
Và đoạn cuối: Mỗi lãm tích nhân hứng cảm chi do, nhược hợp nhất khế; vị thường bất lâm văn ta điệu, bất năng dụ chi ư hoài. Cố tri nhất tử sinh vi hư đản, tề Bành thương vi vọng tác. Hậu chi thị kim, diệc do kim chi thị tích, bi phù!
Cố liệt tự thì nhân, lục kỳ sở thuật, tuy thế thù sự dị, sở dĩ hứng hoài, kỳ trí nhất dã. Hậu chi lãm giả, diệc tương hữu cảm ư tư văn.
Tạm dịch: Mỗi khi xét đến cảm hứng trong văn chương của người xưa rồi cùng hợp lại, thì lòng ta lại vì lời văn mà trỗi mối u hoài không giải rõ được vì sao. Cứ khăng khăng cho rằng sống chết đều là chuyện hư dối, lấy cái thọ của Bành Tổ mà so với cái yểu của Thương Sinh thì thật ngông cuồng. Đời sau nhìn lại nay cũng như nay nhìn lại xưa, cả đều buồn thay!
Vậy đây theo thứ tự các thi nhân mà chép lại; tuy tuổi tác chẳng đồng, sự việc có khác nhưng lòng hoài cảm thì như nhất. Người sau xem lại, hẳn vì lời thơ mà gợi niềm thương cảm hơn chăng.
Điểm mấu chốt của đoạn này là câu “cứ khăng khăng cho sống chết đều là chuyện hoang đường, lấy cái thọ của Bành Tổ mà so với cái yểu của Thương Sinh thì thật ngông cuồng”. Trong sách “Tề vật luận” Trang Tử đã giải thích một cách đơn giản về quan điểm trên rằng: mọi vật đang sống là đang chết, đang chết là đang sống (phương sinh phương tử, phương tử phương sinh). Con người chết rồi nhưng nguyên thần bất diệt, nguyên thần sẽ tiến nhập vào luân hồi và một sinh mệnh mới sẽ ra đời. Đứng từ góc độ tu luyện thì rất dễ hiểu, bản thân Vương Hi Chi là người tu Đạo và đã đọc thành thục sách của Trang Tử, không thể nào không hiểu được ý tứ của tiền nhân, vì sao ông lại nói như vậy? Kỳ thực ý mà ông muốn nói chính là chỉ có tu luyện chân chính mới có thể thoát khỏi luân hồi và có được vẻ đẹp vĩnh hằng của sinh mệnh; nhưng thực tế con đường tu luyện vốn rất gian nan, một người bình thường thân đầy chấp trước, không thể buông bỏ được tí gì mà muốn đạt tới cảnh giới thoát tục là không thể nào, chỉ là “hư dối”, “ngông cuồng”.
Thế nhân luôn cảm thán rằng đời người là vô thường và cố gắng đi tìm con đường vĩnh hằng cho sinh mệnh nhưng họ lại không buông bỏ được trùng trùng chấp trước của người thường, từ xưa đến nay đều như vậy. Qua bài “Lan Đình tập tự” Vương Hi Chi đã sử dụng thủ pháp văn chương để bày tỏ quan điểm của mình.
Điểm khác biệt rất lớn giữa “Lan Đình tập tự” và các tác phẩm nổi tiếng khác được lưu truyền lại là thư pháp của Vương Hi Chi vô cùng đẹp, đẹp đến mức khiến người xem phải nín thở. Cái đẹp nằm ở kết cấu bài văn, đẹp ở kết cấu con chữ, đẹp ở chỗ bút pháp, tất cả hòa quyện lại với nhau và triển hiện đầy đủ trên bức thư pháp này, người đời xưa nay xưng tụng là “Thiên hạ đệ nhất hành thư”. Thế nhân thường dùng những câu sau trong bài “Lạc Thần phú” của Tào Thực để ca tụng vẻ đẹp của thư pháp Vương Hi Chi:...(còn tiếp)
Link bài viết: chanhkien.org/2024/11/dang-sau-buc-lan-dinh-tap-tu…
Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
Chánh Kiến Việt Ngữ
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2025 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc vềChanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK#ChanhKien#ChanhKienNet#ChanhKienOfficial#ChanhKienOrg#ChanhKienVietNgu#VanHoaTruyenThong#VanHoaThanTruyen#VHTT#TuLuyen
1 month ago | [YT] | 105
View 0 replies
Chánh Kiến Việt Ngữ
🔍Kỳ quan ngàn năm Huyền Không Tự 🔍
[ChanhKien.org]
✨ Tiên thơ Lý Bạch cả đời thích Đạo, dấu chân in khắp danh sơn đại xuyên, đã thăm viếng qua rất nhiều chùa chiền đạo quán, đến đâu cũng đều lưu lại rất nhiều tác phẩm lay động lòng người, trong đó có một bài thơ ý cảnh (1) cao xa, kỳ ảo xuất thần:
Dạ túc sơn tự
Nguy lâu cao bách xích
Thủ khả trích tinh thần
Bất cảm cao thanh ngữ
Khủng kinh thiên thượng nhân
Dịch nghĩa
Lầu cao vòi vọi trăm thước
Tay không có thể hái được sao
Không dám nói lớn tiếng
Sợ làm kinh động người trên trời
Thưởng thơ rồi tâm tư suy tưởng, ngôi chùa chênh vênh vắt vẻo trên núi, tay bắt được sao này ở đâu vậy?
✨ Kỳ quan ngàn năm Huyền Không Tự
Huyền Không Tự (Chùa Huyền Không – ngôi chùa treo trên không trung) hay còn gọi là Huyền Không Các (lầu gác huyền bí trên không), được mệnh danh là “Ngôi chùa trên trời”, nằm ở núi Hằng Sơn, thành phố Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây, nổi tiếng với địa thế cao hiểm trở ngay trên vực thẳm. Ngôi chùa được xây dựng vào cuối triều đại Bắc Ngụy (năm 491), cách đây hơn 1.500 năm và là một ngôi chùa độc đáo đặc biệt kết hợp Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo.
Thiết kế của Huyền Không Tự khéo léo kỳ lạ. Xa trông, là những đình đài lầu các lung linh tinh xảo khảm trên vách núi Thúy Bình bay bổng khí tiên. Gần nhìn, là nguy lâu với những điêu khắc gỗ cổ xưa điêu luyện sắc sảo treo lơ lửng trên không trung trăm thước. Kiến trúc tài tình như vậy được thế giới tôn xưng là kỳ quan.
Từ cổ chí kim, không biết có bao nhiêu du khách ngưỡng mộ danh tiếng đến đây thưởng ngoạn đã bị thiết kế thiên tài xảo diệu này làm cho kinh ngạc. Thi tiên Lý Bạch du lãm nơi này đã lưu lại trên vách đá hai chữ lớn “tráng quan”.
Huyền Không Tự sừng sững trên vách đá ngàn năm bất hoại quả là kỳ tích, một công trình kiến trúc toàn bằng gỗ như thế làm sao có thể chịu được mưa sa gió táp? Ai là người có trí huệ lớn như vậy?
✨ Tương truyền, vào thời Bắc Ngụy, có một vị thiên sư đạo trưởng trước khi quy tiên đã lưu lại di huấn: “Cần xây dựng một ngôi chùa trên không trung, để “thượng duyên tiêu khách, hạ tuyệt hiêu phù” (tạm dịch: trên rước khách trời, dưới rời ồn náo)”. Sau đó, các đệ tử của thiên sư tuân theo ý nguyện của thầy, trù tính kinh phí, lựa chọn địa điểm, thiết kế dựng thành.
Đặc điểm của Huyền Không Tự là cheo leo và hiểm trở, bước đi trên đó rung động đung đưa, giống như một tòa nhà nguy hiểm sắp sập, kỳ thực lại vững chắc như bàn thạch. Huyền Không Tự kinh qua vô số lần xuân hạ thu đông, nhưng như một cây thường xanh vẫn ngàn năm sừng sững đứng, được thế giới xưng tụng là một trong thập đại kỳ tích.
Phía ngoài của chùa được chống đỡ bởi một số cột gỗ thanh mảnh, tay chạm vào có cảm giác đong đưa. Chúng có tác dụng trợ lực, có thể giúp giảm áp lực của toàn tự viện, cũng tăng dũng khí cho những kẻ nhát gan, có ta đang chống đỡ đây rồi, đừng sợ nhé. Dân gian cũng truyền miệng cách nói rằng “Huyền Không Tự, cao nửa trời, ba cái đuôi ngựa treo trên không”. Bề mặt của các cột gỗ đã được phủ lên một lớp dầu cây du đồng để chống mối mọt và mục rỗng.
Toàn bộ trọng tâm cấu trúc bên trong của ngôi chùa chống đỡ vào đá núi, đá được đục thành dạng hình thang vuông, rồi cắm rường cột gỗ vào, lợi dụng nguyên lý lực học dùng một nửa rường cột đưa ra ngoài làm nền của ngôi chùa. Toàn bộ kiến trúc cao 50 mét so với mặt đất, có bố cục “nhất viện lưỡng lâu” (một tòa viện và hai tòa lầu) (2), với tổng chiều dài khoảng 32 mét, lầu các điện thờ có 40 gian, lầu điện giao thoa qua lại, cầu treo trên không làm lối đi, cao thấp đan xen.
Huyền Không Tự là tác phẩm xuất thần, thể hiện trí tuệ cổ xưa của nhân loại. Nhìn lại nhiều danh thắng cổ tích vùng đất Hoa Hạ, đều thấy điểm chung là hầu như tất cả chúng đều được những người tu hành xây dựng nên. Chẳng hạn như: Chùa Bạch Mã – ngôi chùa đầu tiên trên thế giới, Lạc Sơn Đại Phật, Tử Cấm Thành Bắc Kinh, v.v.
✨ Tại sao hành giả lại có trí tuệ lớn như vậy? Có phải chăng đang truyền tải Thiên ý gì?
Văn hóa truyền thống cổ xưa là do Thần truyền lại cho con người, trong khi tai quen mắt biết, con người biết giữ gìn đạo đức, tuân thủ lễ nghĩa. Sự truyền thừa của Phật giáo và Đạo giáo cũng là cấp cho con người nấc thang lên trời, con người thông qua chịu khổ tu xuất khỏi thế giới con người. Trong số đó có nhiều người tu luyện, bao gồm cả hòa thượng, đạo sĩ, nhờ tu luyện tinh tấn đã đạt đến cảnh giới xuất thần thông. Họ có thể câu thông với các vị Thần, nhận được sự khai thị của Thần.
Thiên sư đạo trưởng Khấu Khiêm của triều đại Bắc Ngụy là một trong số đó. Huyền Không Tự là kiệt tác của Thần, là người tu luyện thực hiện ý chỉ của Thần vậy.
✨ Kể cũng lạ, tại sao Huyền Không Tự lại được xây dựng trên vách núi dựng đứng?
Nếu nói rằng “Thượng duyên tiêu khách, hạ tuyệt hiêu phù”, thì xây dựng trên vách đá có thể xem là một vị trí tuyệt vời. Không chỉ rời xa huyên náo, mà còn được ngắm mưa sao, hái sao và bầu bạn thiên nhân. Con đường tu hành cũng như thân trong cảnh “treo” này. Khi kiên định thực tu thì không khác gì luôn luôn được cùng thiên nhân bầu bạn, tư tưởng trong cảnh giới của Thần; bằng như lúc chán nản mỏi mòn, thì cái thân xác thịt cho dù cách xa cõi phàm nhưng nguy hiểm lại luôn ngay sát dưới chân, treo lơ lửng giữa trời không thể đắc độ.
Một kỳ quan khác nữa của Huyền Không Tự chính là phụng thờ cùng một lúc ba tôn giáo, làm tượng của ba ông tổ tam giáo là Khổng Tử, Phật Thích Ca Mâu Ni và Lão Tử rồi đặt cùng với nhau. Giới tu luyện xưa nay đều nói bất nhị pháp môn, không thể hòa trộn tạp tu, nếu như một người tu hành bước chân vào hai cửa thì tu không thành, cũng không có sinh mệnh cao tầng nào gia trì giúp đỡ.
✨ Vậy có phải Thần đang gợi ý điều gì cho con người không?
Có phải chăng lúc này hai tôn giáo lớn là Phật giáo và Đạo giáo đã bắt đầu suy bại rồi? Phật Thích Ca Mâu Ni cách đây hơn 2000 năm đã từng cảnh báo các đệ tử rằng, Pháp của ông trong tương lai rồi sẽ lạc mất, đến thời kỳ mạt Pháp thì Pháp của ông không thể độ nhân được nữa. Khi đó chùa không có Phật bảo hộ, thay vào đó là cáo chồn quỷ rắn. Các tỳ kheo nghe vậy vô cùng buồn khổ, hỏi: “Vậy phải thế nào?” Phật Thích Ca Mâu Ni bảo: “Khi Ưu Đàm Bà La hoa khai nở, Chuyển Luân Thánh Vương sẽ giáng thế, truyền Phật Pháp cứu độ thế nhân”.
Huyền Không Tự được xây dựng sau khi Phật Thích Ca nhập niết bàn 500 năm. Có thể Phật giáo lúc bấy giờ đã bắt đầu biến dị, và đồng thời Đạo giáo lúc bấy giờ cũng không còn tốt nữa. Phải chăng Huyền Không Tự đang tuân theo Thiên ý, đang gợi ý cho con người trong mê về trạng thái tu luyện trong tương lai là thế nào hay không?
Trong “Tuệ Lâm âm nghĩa”, có nói rằng: “Hoa Ưu Đàm Bà La cảm ứng điềm lành linh diệu, là hoa của trời, trên thế gian không có loài hoa này. Nếu Như Lai hạ thế, Chuyển Luân Thánh Vương xuất hiện tại thế gian, bởi vì đại phúc và uy đức của Ngài cảm hóa loài hoa này xuất hiện”. Trong “Pháp Hoa Văn Cú” cũng có viết: “Hoa Ưu đàm, điềm báo tốt lành. 3000 năm mới nở một lần, khi xuất hiện thì là Kim Luân Vương đến”.
🌥️ Xin mời quý độc giả theo dõi tiếp toàn bộ bài viết tại link: chanhkien.org/.../ky-quan-ngan-nam-huyen-khong-tu.….
🌥️ Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
🌥️ Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
𝐂𝐡𝐚́𝐧𝐡 𝐊𝐢𝐞̂́𝐧 𝐕𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐍𝐠𝐮̛̃
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2026 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc về Chanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK #ChanhKien #ChanhKienNet #ChanhKienOfficial #ChanhKienOrg #ChanhKienVietNgu #VanHoaTruyenThong #VanHoaThanTruyen #VHTT #TuLuyen
1 month ago | [YT] | 72
View 3 replies
Chánh Kiến Việt Ngữ
🌿 Liệu chúng ta có thể đạt được niềm vui? 🌿
[ChanhKien.org]
✨ Niềm vui đích thực có lẽ không nằm quá nhiều ở việc sở hữu thêm nhiều thứ, mà ở việc nhận ra những điều tốt đẹp vốn đã luôn hiện hữu quanh ta.
✨ Niềm vui cần thiết với con người như không khí, nhưng cũng khó nắm giữ như chính không khí vậy.
Ai cũng tìm kiếm niềm vui và hạnh phúc. Đó là bản chất vốn có của con người. Thế nhưng chúng ta không phải lúc nào cũng thật sự hiểu rõ niềm vui là gì hay điều gì tạo nên nó. Chúng ta có thể nhận ra niềm vui khi bắt gặp nó: một nguồn sinh khí dâng lên bên trong, như tia nắng chiếu sáng tâm hồn. Nhưng tia sáng ấy thường bị che khuất sau những đám mây, và những điều từng hứa hẹn mang lại niềm vui cuối cùng lại khiến chúng ta cảm thấy trống rỗng.
Những khoảnh khắc của niềm vui vô cùng đa dạng và khó đoán — một giai điệu ngọt ngào bất chợt len vào tai, hình ảnh chú nai phóng mình qua cánh đồng cỏ lúc hoàng hôn, cảm giác phấn khích khiến máu nóng dâng trào khi tham gia một môn thể thao tốc độ, hay khoảnh khắc bạn bè quây quần trò chuyện và cười đùa cùng nhau. Chúng ta luôn theo đuổi những khoảnh khắc như thế; đôi khi chạm tới điều mình mong muốn, đôi khi lại chẳng nhận được gì. Chính sự khó lường ấy đôi lúc khiến con người cảm thấy bực bội.
Sẽ cần nhiều cuốn sách để lý giải đầy đủ về niềm vui và những gì gợi lên niềm vui. Tuy vậy, vẫn có một vài câu hỏi quan trọng về niềm vui có thể được giải đáp trong khuôn khổ của một bài viết ngắn.
Niềm vui từ điều Thiện 🌿
Trước hết, niềm vui là điều chúng ta giành được hay là điều chúng ta nhận được? Nhà văn Sofia Cuddeback đã đặt ra câu hỏi ấy trong bài viết “Regarding Joy” (Về niềm vui) đăng trên tập 3 của Tạp chí “Hearth & Field”. Dù không đưa ra câu trả lời trực tiếp, bà Cuddeback đã khéo léo gợi mở một đáp án gián tiếp và tinh tế thông qua việc phân tích bản chất của niềm vui. Dựa trên triết lý của Thomas Aquinas, bà Cuddeback cho rằng niềm vui là trạng thái khi ý chí tìm được sự an yên trong một điều tốt đẹp đang hiện diện. Nói cách khác, niềm vui xuất hiện khi trái tim chúng ta sở hữu một điều tốt đẹp nào đó — đặc biệt là kiểu điều thiện mà con người có thể thấu hiểu và trân trọng bằng lý trí. (Điều này khác với những điều chỉ đơn thuần hấp dẫn các giác quan, chẳng hạn như một món ăn ngon).
Bà Cuddeback đã đưa ra một vài ví dụ về những điều tốt đẹp mà con người có thể cảm nhận bằng lý trí hoặc trí tuệ: “Sự trân trọng vẻ đẹp của sự hy sinh, hay sự ngưỡng mộ những phẩm chất tốt đẹp của một người bạn”. Ngoài ra còn có thể kể đến: việc nhận ra tình yêu thương của người khác dành cho mình, trải nghiệm vẻ đẹp của thiên nhiên, sự thấu hiểu một chân lý quan trọng, việc thực hiện một hành động tốt đẹp, hay niềm vui khi tham gia vào những hoạt động khơi gợi trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo.
✨ Mỗi khi chạm tới được một trong những điều tốt đẹp ấy, chúng ta sẽ cảm nhận được niềm vui. “Khi chúng ta đạt được điều mà trí tuệ khao khát và an trú trong đó”, bà Cuddeback viết, “khi chúng ta cho phép bản thân ý thức về nó và ở lại trong nó, theo nghĩa bóng — đó chính là niềm vui. Niềm vui là điều chúng ta cảm nhận khi được an yên trong một điều tốt đẹp mà mình yêu quý”.
Theo bà Cuddeback, con người có thể trải nghiệm nhiều niềm vui hơn bằng cách nâng cao khả năng nhận ra những điều tốt đẹp xung quanh mình. Chính lúc này lòng biết ơn trở nên quan trọng. Bởi niềm vui chỉ xuất hiện từ những gì chúng ta đang có, nên nếu ta không nhận ra hay không trân trọng những điều tốt đẹp ấy, mà chỉ mãi bận tâm đến những gì mình thiếu, thì sẽ rất khó để cảm thấy vui.
Việc quá vội vàng chuyển từ điều tốt đẹp này sang điều tốt đẹp khác cũng có thể làm phai nhạt niềm vui. “Nếu chúng ta bị xao nhãng khỏi điều mình yêu quý để tiếp tục chạy theo một mục tiêu khác, thì chúng ta không còn thật sự an yên trong điều tốt đẹp ấy nữa”, bà Cuddeback viết. Có lẽ vì thế một cuộc sống nhiều niềm vui đòi hỏi con người phải học cách sống chậm lại và chú tâm hơn đến những điều tốt đẹp luôn hiện diện quanh mình”.
✨ Vì tất cả những lý do đó, bà Cuddeback khuyên chúng ta nên rèn luyện khả năng nhận ra và trân trọng những gì mình đang có. Bà cũng nhấn mạnh việc định hướng những mong muốn của bản thân về phía những điều tốt đẹp có thể mang lại niềm vui sâu sắc và bền lâu nhất: những điều thực sự cao quý, đáng yêu, đẹp đẽ, thuần khiết và những điều tương tự. Cuối cùng, bà cho rằng chúng ta nên cố gắng sống giữa những điều như thế, để cảm nhận niềm vui âm thầm tuôn chảy từ chúng.
(còn tiếp)
🌥️ Xin mời quý độc giả theo dõi tiếp toàn bộ bài viết tại link: chanhkien.org/.../lieu-chung-ta-co-the-dat-duoc...
🌥️ Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
🌥️ Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
𝐂𝐡𝐚́𝐧𝐡 𝐊𝐢𝐞̂́𝐧 𝐕𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐍𝐠𝐮̛̃
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2026 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc về Chanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK #ChanhKien #ChanhKienNet #ChanhKienOfficial #ChanhKienOrg #ChanhKienVietNgu #VanHoaTruyenThong #VanHoaThanTruyen #VHTT #TuLuyen
1 month ago | [YT] | 60
View 0 replies
Chánh Kiến Việt Ngữ
Tác giả: June Kellum
[ChanhKien.org]
Bạn đã bao giờ quan sát mọi người dán mắt vào điện thoại—như bị thôi miên, hoàn toàn tách rời khỏi những gì xung quanh, còn suy nghĩ và cảm xúc của họ thì bị chi phối bởi những gì hiện lên trên màn hình?
Bạn có cảm thấy chính mình cũng bị định hình bởi thời gian sử dụng màn hình không? Mắt bạn có thay đổi cách tập trung sau khi nhìn màn hình không? Cơ thể bạn có cảm thấy cứng lại không? Bạn có mệt mỏi vì dùng thiết bị điện tử quá giờ đi ngủ không?
Sau khi đặt màn hình điện tử xuống, bạn vẫn còn nghĩ về những gì đã xem hoặc vẫn đang xử lý với những cảm xúc đó phải không? Bạn có thấy mình dùng điện thoại nhiều hơn mức mong muốn không? Vô thức với tay lấy nó chỉ để xua đi sự buồn chán phải không?
Bạn không hề đơn độc.
Khoảng một nửa số người Mỹ cho biết họ cảm thấy nghiện điện thoại, với thời gian xem màn hình trung bình của người trưởng thành lên tới hơn 5 giờ mỗi ngày.
Khi những giờ đó cộng dồn lại. Với 5 giờ mỗi ngày, trong một tuần bạn sẽ dành khoảng một ngày rưỡi để xem điện thoại. Trong một năm, bạn sẽ dành 76 ngày để xem nó. Nếu bạn sử dụng điện thoại trong 40 năm, bạn sẽ dành hơn 8 năm cho nó.
Nghiện công nghệ là thuốc phiện của thời đại chúng ta, một dịch bệnh đang âm thầm bào mòn cuộc sống, làm suy yếu sức khỏe và các mối quan hệ của chúng ta.
Đó là điều mà tất cả chúng ta, những người sở hữu điện thoại thông minh, iPad hay máy tính xách tay, đều phải đối mặt.
Nhiều người trong chúng ta muốn sử dụng điện thoại ít hơn. Tin tốt là, chứng nghiện điện thoại hoàn toàn có thể vượt qua, và bạn có thể lấy lại quyền kiểm soát cuộc sống của mình.
Vì sao chúng ta bị nghiện?
Màn hình, ứng dụng và các nền tảng kỹ thuật số khác gây nghiện vì chúng được thiết kế để như vậy. Nền kinh tế dựa trên việc thu hút và khai thác sự chú ý của con người hiện có giá trị hơn 800 tỷ USD trên toàn cầu. Ánh mắt nhìn của chúng ta trên môi trường mạng trực tuyến là một ngành kinh doanh lớn, vì vậy người ta có động lực rất lớn để giữ chân chúng ta.
“Bản thân công nghệ đã mang tính gây nghiện, với những ánh đèn nhấp nháy, âm thanh hấp dẫn, ‘những chiếc bát không đáy’ và lời hứa rằng, nếu tiếp tục tương tác, phần thưởng sẽ ngày càng lớn hơn”, bà Anna Lembke viết trong cuốn sách “Dopamine Nation” (Giải Mã Hoóc-Môn Dopamine) của mình.
Bà Lembke là bác sĩ tâm thần và là giám đốc y khoa của chương trình y học cai nghiện tại Stanford.
Ông Tristan Harris, đồng sáng lập Trung tâm Công nghệ Nhân văn và từng là chuyên gia về đạo đức thiết kế tại Google, chỉ ra rằng các công ty đã bỏ ra rất nhiều công sức để biến điện thoại thành thứ mà bạn không thể đặt xuống.
“Chiếc điện thoại của bạn vào những năm 1970 không có hàng nghìn kỹ sư… mỗi ngày liên tục cập nhật cách điện thoại hoạt động để ngày càng thuyết phục người dùng hơn”, ông Harris nói trong một cuộc phỏng vấn năm 2017 trên CBS.
Ông nói rằng điện thoại di động rất giống máy đánh bạc; sự thỏa mãn gián đoạn mà chúng ta nhận được khi sử dụng khiến chúng ta quay lại nhiều hơn. Thao tác vuốt xuống và cuộn màn hình cũng mô phỏng thao tác kéo cần gạt của các máy đánh bạc kiểu cũ.
Các ứng dụng và nền tảng khác nhau sử dụng những kỹ thuật khác nhau, chẳng hạn như khai thác sở thích và những điều bạn không thích. Những nội dung bạn yêu thích mang lại cho bạn cảm giác hưng phấn (các cú hích hoóc-môn dopamine), còn các bài viết gây tranh cãi cũng khiến bạn tiếp tục bị cuốn vào...( còn tiếp)
Link bài viết: chanhkien.org/2026/05/vi-sao-chung-ta-nghien-dien-…
Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
Chánh Kiến Việt Ngữ
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2025 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc vềChanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK#ChanhKien#ChanhKienNet#ChanhKienOfficial#ChanhKienOrg#ChanhKienVietNgu#VanHoaTruyenThong#VanHoaThanTruyen#VHTT#TuLuyen
1 month ago | [YT] | 65
View 2 replies
Chánh Kiến Việt Ngữ
🏠Hạnh phúc gia đình thật đẹp 🏠
[ChanhKien.org]
✨“Thiên luân chi lạc” là câu thành ngữ đề cập đến cảnh các thành viên trong gia đình đoàn tụ cùng sinh sống hạnh phúc, đặc biệt là người già và con cháu hậu thế cùng chung sống.
🌿 Xin mời quý độc giả theo dõi tiếp toàn bộ bài viết tại link: chanhkien.org/.../hanh-phuc-gia-dinh-that-dep.html
🌿 Link radio Gangjingworld: www.ganjingworld.com/.../1hq3el4bm1p2tuNm1WyEHHvv.….
🌿 Link radio Youtube: https://www.youtube.com/watch?v=QOtoi...
🌿 Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
🌿 Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
𝐂𝐡𝐚́𝐧𝐡 𝐊𝐢𝐞̂́𝐧 𝐕𝐢𝐞̣̂𝐭 𝐍𝐠𝐮̛̃
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2026 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc về Chanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK #ChanhKien #ChanhKienNet #ChanhKienOfficial #ChanhKienOrg #ChanhKienVietNgu #VanHoaTruyenThong #VanHoaThanTruyen #VHTT #TuLuyen
1 month ago | [YT] | 80
View 1 reply
Chánh Kiến Việt Ngữ
Thiếu niên thời không (37): Mùng 5 tháng 5 (âm lịch) nói chuyện “Đoan Ngọ”
Biên tập: Tịnh Trúc
Dẫn chương trình: Thuần Tử
[ChanhKien.org]
Xin chào các em thiếu niên thân mến, chị là chị Thuần Tử. Thời gian như thoi đưa, chớp mắt đã lại đến mùng năm tháng năm, ngày “Tết Đoan Ngọ” truyền thống của Trung Hoa rồi. Trong chương trình của ngày hôm nay, chị Thuần Tử muốn trò chuyện cùng các em về chủ đề “Tết Đoan Ngọ” này.
“Tết Đoan Ngọ” cùng với Tết Năm Mới, Tết Thanh Minh, Tết Trung Thu được xem là bốn ngày Tết truyền thống lớn của người Hán ở Trung Quốc, tại Trung Quốc và các nước khác có nền văn hoá Hán Tự xung quanh Trung Quốc cũng được lưu hành phổ biến rộng rãi. Thế nhưng, các em thiếu niên biết không, “Tết Đoan Ngọ” thực ra lại không chỉ là như những gì chúng ta đã biết, rằng đơn giản vì để tưởng nhớ nhà thơ yêu nước Khuất Nguyên vậy đâu. Bởi vì, nó không chỉ chứa đựng triết học nhân văn và tự nhiên cổ xưa như tín ngưỡng nguyên thuỷ, văn hoá tinh tượng, văn hóa cúng tế và thiên tượng, lịch pháp của dân tộc Trung Hoa, mà còn ẩn chứa nội hàm phong phú sâu dày của văn hóa Thần truyền trung Hoa nữa đó.
Từ “Đoan Ngọ” xuất hiện sớm nhất trong «Phong Thổ Ký» của Tây Tấn. Đoan, Hán ngữ cổ có nghĩa là mở đầu, ban đầu, gọi “Đoan Ngũ” cũng gọi là “Mồng Năm”. người xưa lấy Thiên Can Địa Chi làm tải thể, Thiên Can gánh vác cái Đạo của Trời, Địa Chi gánh vác cái Đạo của Đất, thiết lập Thiên Can Địa Chi để khắc hoạ sự vận hành của Thiên Địa Nhân Sự. Người xưa ghi giờ, ghi ngày, ghi tháng, ghi năm thường dùng Thiên Can Địa Chi, căn cứ lịch Can Chi, theo tuần tự 12 Địa Chi mà tính, tháng thứ năm tức “tháng Ngọ”, ngày Ngọ tháng Ngọ gọi là “Trùng Ngọ”, mà ngày Ngọ lại là “Dương Thần”, vậy nên “Tết Đoan Ngọ” cũng gọi là Tết Đoan Dương, Tết Trùng Ngọ, Tết ngày Ngọ, Tết tháng Năm.
“Tết Đoan Ngọ” khởi nguồn vào thời Xuân Thu Chiến Quốc ở trung Quốc, thực ra còn sớm hơn cả Khuất Nguyên, đến nay đã có hơn 2000 năm lịch sử. Nhưng cả trăm ngàn năm nay, vì duyên cớ tinh thần yêu nước và thơ từ cảm động lòng người của Khuất Nguyên đã ăn sâu vào lòng người một cách phổ biến, cách nói tưởng nhớ Khuất Nguyên có ảnh hưởng sâu rộng nhất, từ đó đã giữ vị trí chủ yếu về nguồn gốc của “Tết Đoan Ngọ”. Thực ra “Tết Đoan Ngọ” là do sự diễn biến từ việc tế rồng thời thượng cổ mà ra, lưu truyền chủ yếu tại dải đất Ngô Việt phương Nam (bây giờ là vùng trung hạ sông Trường Giang và khu vực phía Nam), ban đầu là bộ tộc khu vực Bách Việt cổ đại sùng bái vật tổ rồng, chọn ngày Đoan Ngọ này làm ngày cử hành cúng tế vật tổ. Và cũng chính là nói “Tết Đoan Ngọ” thực ra là ngày mà người cổ đại cúng tế tổ rồng.
“Tết Đoan Ngọ” ngoài những cái tên như Tết Đoan Dương, Tết Trùng Ngọ, Tết Ngọ Nhật, Tết tháng Năm, Tết thuyền rồng, Tết Chính Dương, Tết Dục Lan, Tết nữ nhi, Địa Lạp, Tết thi nhân v.v…, nó còn được gọi là “Tết Thiên Trung” và “Long Nhật”. Gọi “Tết Thiên Trung” là bởi vì ngày mồng năm tháng năm này trong Hoàng lịch, là ngày mà vị trí Mặt Trời trên bầu trời nằm ở chính giữa nhất trong năm, nên mới có tên này. Trong của «Ấu Học Quỳnh Lâm bút đàm» đã đặc biệt nhắc đến “mồng năm tháng năm, tự hiệu thiên trung”.
Vậy tại sao còn gọi là “Long Nhật” nhỉ? Nói đến vấn đề này thì khá phức tạp rồi, bởi vì điều này có liên quan đến học thuyết tinh tượng cổ xưa của dân tộc Trung Hoa chúng ta. Trong thời Trung Quốc cổ đại, các học giả tinh tượng xem toàn bộ vũ trụ thiên không là một thiên cầu cực đại, từ góc nhìn của người quan sát trên Trái Đất thấy quỹ đạo Mặt Trời chuyển động trên thiên cầu, cũng chính là nói quỹ đạo được hình thành khi Trái Đất xoay quanh Mặt Trời một vòng trên tuyến đường hình chiếu của thiên cầu, gọi là “Hoàng đạo”, “Hoàng lịch” mà chúng ta hiện tại đang sử dụng chính là hình thành dựa theo quỹ đạo vận hành của “Hoàng đạo”, “ngày tốt Hoàng đạo” mà chúng ta thường nói chính là được tính ra theo nguyên lý như thế đó.
Để quan trắc tình trạng vận hành của Mặt Trời, Mặt Trăng và ngũ tinh Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ, các nhà tinh tượng cổ đại lấy “Hoàng đạo” và những vì sao gần khu vực xích đạo, chiểu theo bốn phương vị Đông, Nam, Tây, Bắc phân thành bốn Cung, mỗi Cung bao gồm bảy chòm sao, sau đó lấy bảy chòm sao này kết nối thành hình tượng con động vật, lại phân biệt với bốn loại màu sắc Xanh, Đỏ, Trắng, Đen, sau khi kết hợp lại thì trở thành Nhị thập bát tú mà chúng ta nói đến hiện nay: Đông Thanh Long (rồng xanh ở phương Đông), Nam Chu Tước (sẻ đỏ ở phương Nam), Tây bạch Hổ (hổ trắng ở phương Tây) và Bắc Huyền Vũ (rùa đen ở phương Bắc). Cách nói “Thiên chi tứ linh, dĩ chính tứ phương” do vậy mà có.
Các em thiếu niên thân mến, chúng ta đều biết Trung Quốc nằm tại phương Đông của thế giới, mà sau khi bảy chòm sao phương Đông “Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ” liên kết lại tổ thành hình tượng tinh tượng là một hình rồng hoàn chỉnh, vì phương Đông lại đại biểu là màu xanh, cũng là màu của thương khung, vậy nên rồng xanh phương Đông cũng gọi là “thương long thất tú”. Dân tộc Trung Hoa được gọi là “truyền nhân của rồng” có lẽ cũng từ đây mà ra.
Ngày Đoan Ngọ giữa mùa hạ, sao rồng lên đến vị trí cao thiên trung chính Nam, đã “đắc trung” lại “đắc chính”, là ngày rồng bay lên trời, như trong quẻ Hào Từ của Hào thứ năm trong «Kinh Dịch – Càn Quái» nói: “Phi long tại thiên” (rồng bay trên trời). Cho nên người ta còn gọi “Tết Đoan Ngọ” là ngày “Long Nhật”.
Rồng đối với người xưa mà nói, tuy mắt thịt khó thấy nhưng lại tồn tại chân thực, vậy nên trong văn hoá Đạo gia cổ xưa, rồng đã là loài vật có thật, lại có thể đại biểu cho tất cả sự vật có cùng tính chất với Nó. Ví như đến Đoan Ngọ, thì người ta sẽ biết rồng bay trên trời, lúc này rồng đại biểu cho tất cả những sự vật mang tính cường dương.
Người Trung Quốc coi trọng “thiên nhân hợp nhất”, đối ứng với Trái Đất và con người, thì sẽ biết lúc này dương khí của Trái Đất sẽ vô cùng mạnh mẽ vào giữa trưa. Lúc mà dương khí của Trái Đất bốc lên vị trí cao nhất thì cũng sẽ giống như một con rồng vậy, rất nhanh hình thành những cơn mưa, khiến khí long dương giáng hạ xuống rồi dần dần ngấm vào đất, hình thành sự giao thoa của nước lửa âm dương, sinh sôi không ngừng. Vậy nên trước và sau “Tết Đoan Ngọ” sẽ có mưa, dân gian cũng có câu nói “Đoan Ngọ nước dâng”.
Lúc dương khí bốc lên đến giữa trời, cơ thể người cũng sẽ thuận theo sự biến hoá của khí tượng thời tiết mà điều chỉnh cảm ứng theo. Giống nguyên lý trời nóng thì tự động có mưa vậy, khi khí long dương của cơ thể người tăng lên đến bề mặt theo khí thiên dương, thì người sẽ tiết mồ hôi tự động điều tiết nhiệt độ cơ thể. Cho nên trung y truyền thống nói rằng mùa hè cần dưỡng dương, chính là cần thuận theo sự lớn mạnh của dương khí của giới tự nhiên, để cơ thể tiết mồ hôi, nhằm điều tiết âm dương cân bằng, khiến tiểu vũ trụ thân người đồng bộ với thiên tượng.
Thế nhưng, lúc mà dương khí của Trái Đất dâng lên đến đỉnh điểm cao nhất, thì cũng có nghĩa là dưới lòng đất dương khí không đủ. Theo ghi chép của «Lễ Ký – Nguyệt Lệnh», thì tháng Năm là tháng có dương khí mạnh mẽ nhất, đồng thời, dương đến chỗ cực điểm tất chuyển thành âm, vậy nên âm khí cũng sẽ bắt đầu sản sinh trong tháng này. Cũng chính là nói mồng năm tháng năm tuy là lúc dương khí hưng thịnh, nhưng dưới sự giao thoa của âm và dương, những thứ âm ác cũng từ đó mà sinh sôi, ngũ độc như rết, bọ cạp, tắc kè, nhện, rắn độc đều sẽ xuất hiện, những thứ tà độc nóng ẩm trên đất cũng bắt đầu tràn lan. Đối ứng với thân thể người, thì các chức năng của dạ dày đường ruột trong ổ bụng cũng vì âm khí bộc phát, dương khí trong bụng không đủ mà khí ẩm nặng nề, lúc ấy những thứ tà độc nóng ẩm bên ngoài cũng hết sức dễ dàng xâm phạm đường ruột và dạ dày trong thân thể người, từ đó khiến dịch bệnh hoành hành. Vậy nên mồng năm tháng năm lại bị người xưa xem là “ngày ác”.
... ( còn tiếp)
Dịch từ: www.zhengjian.org/node/283969
Link bài viết: chanhkien.org/2024/01/thieu-nien-thoi-khong-37-mun…
Nguồn hình: Chánh Kiến sưu tầm và thiết kế.
Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân.
...
Chánh Kiến Việt Ngữ
𝖢𝗁𝖺𝗇𝗁𝗄𝗂𝖾𝗇.𝗈𝗋𝗀 | 𝖯𝗎𝗋𝖾𝗂𝗇𝗌𝗂𝗀𝗁𝗍.𝗈𝗋𝗀
𝖢𝗈𝗉𝗒𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍 ©2025 𝖺𝗅𝗅 𝗋𝗂𝗀𝗁𝗍𝗌 𝗋𝖾𝗌𝖾𝗋𝗏𝖾𝖽
Lưu ý:
Bản quyền nội dung thuộc vềChanhkien.org
Hoan nghênh chia sẻ. Khi đăng lại (reup) đầy đủ nội dung, vui lòng không chỉnh sửa nội dung, hình ảnh khi chưa có sự chấp thuận của
#CK#ChanhKien#ChanhKienNet#ChanhKienOfficial#ChanhKienOrg#ChanhKienVietNgu#VanHoaTruyenThong#VanHoaThanTruyen#VHTT#TuLuyen
2 months ago | [YT] | 68
View 1 reply
Load more